Tác giả: Flora Zhao

[ChanhKien.org]

Sự khác biệt chủ yếu giữa nhạc cổ điển và nhạc pop là nhạc cổ điển có những quy tắc riêng mà não bộ ưa thích.

(Ảnh: Minh họa bởi The Epoch Times)

Một người phụ nữ cao niên có mái tóc hoa râm ngồi đó bất động, ánh mắt cụp xuống. Ở giai đoạn cuối của chứng mất trí, bà không còn nói chuyện với ai hay giao tiếp bằng mắt nữa.

Khi Ayako Yonetani bắt đầu kéo đàn violin thì người phụ nữ mới từ từ ngẩng đầu lên.

“Miệng mấp máy, và đôi mắt sáng lên như thể bà ấy nghe thấy tiếng nhạc của tôi và đang cố gắng hòa theo vậy”, cô Yonetani, một nghệ sĩ hòa nhạc và là giáo sư vĩ cầm (violin) và vĩ cầm trầm (viola) tại Khoa Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Đại học Central Florida, kể lại.

Những người từng dành thời gian bên cạnh người phụ nữ này đều rất ngạc nhiên. “Trước đây họ chưa bao giờ thấy bà ấy phản ứng như vậy”, cô nói. Nhưng đây chỉ là một trong rất nhiều lần cô Yonetani chứng kiến chuyện như vậy.

Bằng chứng rõ ràng

Một nghiên cứu được công bố vào những năm 1990 trên tạp chí Nature thu hút sự chú ý của mọi người.

Ba nhóm người tham gia được hướng dẫn là ngồi im lặng, nghe một băng nhạc giải trí, hoặc nghe Bản Sonata cho hai đàn dương cầm ở cung Rê trưởng (K448) của Mozart. Mười phút sau, nhóm nghe nhạc Mozart cho thấy sự cải thiện đáng kể trong chỉ số IQ về không gian — cao hơn gần 10 điểm so với hai nhóm còn lại.

(Chú thích hình minh họa: Nhạc Mozart Cải thiện đáng kể Chỉ số IQ về Không gian. Trục tung: Chỉ số IQ về Không gian; Trục hoành (từ trái sang phải): Nhạc Mozart — Nhạc giải trí — Im lặng. Nguồn: Nature)

Kể từ đó, các nhà khoa học dùng nhạc của Mozart và các loại nhạc cổ điển khác trong nhiều thí nghiệm khác nhau trên động vật và con người, xác nhận các kết quả tương tự: Nghe nhạc cổ điển hoặc học chơi một nhạc cụ giúp đạt điểm số ở lớp học cao hơn và kỹ năng suy luận về không gian giỏi hơn, giảm nguy cơ teo não, và làm chậm tình trạng suy giảm nhận thức.

Ông Kiminobu Sugaya, có bằng tiến sĩ dược lý, là giáo sư y khoa tại Trường Y thuộc Đại học Central Florida, và là trưởng khoa Khoa học thần kinh tại Trường Khoa học Y sinh Burnett, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với The Epoch Times rằng “Hiệu ứng Mozart” thực sự hiện hữu. Trong các thí nghiệm với cư dân cộng đồng địa phương, ông phát hiện ra rằng khi loại nhạc cổ điển này được phát ra, “chúng tôi thấy chức năng não tăng 50%”.

Hiệu ứng Mozart là bằng chứng rõ ràng cho thấy chúng ta có thể thay đổi chức năng não và những sự bất thường của não bằng âm nhạc.

Tiến sĩ Michael Trimble, giáo sư danh dự về thần kinh học và tâm thần học, Đại học London

Một số loại nhạc cổ điển không chỉ tăng cường khả năng nhận thức mà còn được dùng để điều trị các chứng rối loạn não như động kinh hoặc bệnh Parkinson. “Hiệu ứng Mozart là bằng chứng rõ ràng cho thấy chúng ta có thể thay đổi chức năng não và những sự bất thường của não bằng âm nhạc”, Tiến sĩ Michael Trimble, giáo sư danh dự về thần kinh học và tâm thần học tại Viện Thần kinh học Đại học London và là thành viên của Hội Bác sĩ Hoàng gia Anh, nói với The Epoch Times. Đôi khi, bệnh động kinh khó kiểm soát bằng thuốc men, và việc dùng nhạc cổ điển được lựa chọn và biên tập cẩn thận để “rèn luyện” bộ não của bệnh nhân động kinh có thể làm cho sóng não cũng như các bất thường biểu hiện trên điện não đồ của họ trở nên bình thường.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Interdisciplinary Science Reviews năm 2022 cho thấy rằng “Cho đến nay, K448 và K545 vẫn là hai tác phẩm âm nhạc chống động kinh duy nhất đã được xác thực bằng các thí nghiệm lặp đi lặp lại”. Nghiên cứu này còn trích dẫn dữ liệu từ một bản phân tích tổng hợp năm 2020, kết luận rằng “Khoảng 84% người tham gia trong các nghiên cứu được đã được đánh giá cho thấy sự sụt giảm đáng kể hoạt động của bộ não liên quan đến bệnh động kinh khi nghe bản K448 của Mozart”.

Bộ não muốn gì

Về những tác động lên bộ não người, sự khác biệt chủ yếu giữa nhạc cổ điển và nhạc pop nằm ở “sự phức tạp và cấu trúc”, cô Clara James, người có bằng tiến sĩ về khoa học thần kinh và là giáo sư tại Đại học Khoa học Ứng dụng và Nghệ thuật ở Geneva, Thụy Sĩ, và Privatdozent (Chức danh học thuật trong hệ thống đại học Đức–Thụy Sĩ) tại Đại học Geneva, nói với The Epoch Times.

Trước 32 tuổi, cô James đã là nghệ sĩ vĩ cầm chuyên nghiệp.

Âm nhạc cổ điển phương Tây trong giai đoạn 1600–1900 (còn gọi là Thời kỳ Thực hành Phổ biến) tuân thủ các quy tắc hòa âm và cấu trúc chặt chẽ. Cô James cho biết, ngay cả những người không phải là nhạc sĩ cũng sẽ nhận ra một sự bất thường nào đó trong cấu trúc của bản nhạc nếu người biểu diễn mắc một lỗi nhỏ.

“Âm nhạc thời kỳ này nhấn mạnh đáng kể vào tỷ lệ, sự cân bằng và hài hòa”, cô Yonetani cho biết thêm.

Ngược lại, các loại hình âm nhạc khác có thể không tuân thủ chặt chẽ các quy tắc cấu trúc này.

Bộ não người “ưa thích các quy tắc của âm nhạc”, Tiến sĩ Trimble nói. “Có những âm thanh nhất định trong âm nhạc khắc sâu vào khả năng cảm thụ âm nhạc của hệ thần kinh”. Ông nhấn mạnh rằng âm nhạc bao hàm những quy tắc tự nhiên và lôgic toán học, đặc biệt là âm nhạc cổ điển, trong đó mối liên hệ với toán học rất là chặt chẽ. Vì vậy, bộ não nhận thức và tiếp nhận được âm nhạc một cách phổ quát.

Bản ký âm đầu tiên cho Bản giao hưởng số 9 của Beethoven. Âm nhạc cổ điển tuân thủ các quy tắc cấu trúc chặt chẽ và nhấn mạnh đáng kể vào tỷ lệ, sự cân bằng và hài hòa. (Ảnh: Ian Waldie/Getty Images)

Tiến sĩ Trimble cho rằng Mozart đã mở ra một phong cách âm nhạc thực sự khác biệt, rời xa thời kỳ Baroque trước đó. K448 của Mozart, tác phẩm đầu tiên được dùng để nghiên cứu hiệu ứng lên bộ não và tác động của âm nhạc Mozart lên bộ não nói chung, “có thể liên quan đến việc tính toán biểu đồ tần số âm thanh (spectrogram) — đặc biệt là sự hiện diện của tần số hòa âm thấp hơn.”

“Nhạc cổ điển và nhạc pop khác nhau ở rất nhiều phương diện”, ông cho biết thêm. Nhạc pop có sự lặp lại liên tục xung quanh cùng những chuỗi giai điệu giống nhau, truyền tải thông tin thường mơ hồ và tầm thường mà không có diễn biến và biến tấu tinh tế như trong tiết tấu của âm nhạc cổ điển.

Cô James cho biết, một tác phẩm âm nhạc cổ điển điển hình có nhiều nhịp điệu khác nhau, với cường độ thay đổi từ những đoạn nhạc cực mạnh đến êm dịu và cực chậm cho đến rất nhanh — tất cả đều đồng điệu một cách liền mạch. So với nhạc cổ điển, một bản nhạc pop lại có giới hạn về biến tấu và duy trì nhịp điệu một cách đều đặn.

Ngoài ra, các tác phẩm âm nhạc cổ điển có thời lượng tương đối dài, thường từ 20 đến 25 phút; một số bản nhạc thậm chí còn dài hơn, chẳng hạn như các tác phẩm của Gustav Mahler, có thể kéo dài hơn một giờ. Nhạc cổ điển hàm chứa thông tin phong phú và giúp cho bộ não có nhiều thời gian để xử lý thông tin đó, giống như việc từ từ thưởng thức một trái táo, trái ngược với việc ăn nhanh một viên kẹo dẻo có hương vị táo.

Hơn nữa, âm lượng khi biểu diễn trực tiếp tại các buổi hòa nhạc nhạc pop hiện đại có thể chói tai, và hành vi của ca sĩ và người hâm mộ có thể có phần cuồng nhiệt. “Quý vị không thể nào nghe được tiếng nhạc vì mọi người la hét suốt thôi”, Tiến sĩ Trimble nói.

Chất xám tăng lên

Khi già đi, bộ não của người ta dần dần teo lại, dẫn đến sự mất dần các tế bào thần kinh. Tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy ở các nghệ sĩ dàn nhạc, một số phần trong bộ não của họ không bị teo lại theo thời gian và thậm chí còn có thể tăng kích thước.

Những cuộc kiểm tra bằng MRI (chụp cộng hưởng từ) được thực hiện dưới sự giám sát của ông Sugaya cũng cho thấy những phát hiện tương tự.

Các nghệ sĩ trong dàn nhạc giao hưởng có lượng chất xám cao hơn đáng kể so với người bình thường và khối lượng não của họ hầu như không giảm theo tuổi tác. (Ảnh minh họa của The Epoch Times)

Bộ não người được cấu tạo gồm chất xám và chất trắng. Chất xám, bao gồm các tế bào thần kinh. Người ta từng thực hiện quan sát và nhận thấy rằng chất xám tăng về khối lượng sau các hoạt động âm nhạc. Cô James giải thích rằng sự gia tăng này không phải do số lượng tế bào thần kinh tăng lên mà là “vì những sự kết nối giữa các tế bào thần kinh trở nên mạnh mẽ hơn”. Mặt khác, chất trắng liên hệ đến các sợi trục thần kinh ngắn hoặc dài, vốn hoạt động cùng nhau như mạng lưới liên lạc của não, tương tự như cách các con đường ở địa phương và xa lộ kết nối các thành phố khác nhau. Khi nghe nhạc, mạng lưới này được xây dựng và định hướng tốt hơn.

Cô James cho biết, ngoài ra, vùng hải mã — một cấu trúc não sâu — “sáng lên” khi mọi người chăm chú nghe nhạc. Hồi hải mã đóng một vai trò quan trọng trong khả năng nhận thức, trí nhớ, và cảm xúc.

Ghi nhớ âm nhạc của chúng ta dường như tồn tại lâu hơn ghi nhớ về các sự kiện hoặc trải nghiệm hàng ngày trong những giai đoạn nhất định của cuộc đời. Hiện tượng này giải thích tại sao một số người cao tuổi có thể dễ dàng nhớ lại và hát những bài hát hoặc giai điệu mà hồi còn trẻ họ yêu thích. Hồi hải mã còn giúp người ta hiểu được âm nhạc. Nếu phần não này không hoạt động, thì người ta sẽ không cảm thụ được những gì họ nghe thấy — giống như nghe một ngôn ngữ khác.

Tác động về mặt cảm xúc

Các cuộc khảo sát quốc tế cho thấy hơn 80% chúng ta khóc khi nghe nhạc, nhưng chỉ có 18% và 25% rơi nước mắt khi xem các tác phẩm điêu khắc và tranh vẽ. “Âm nhạc khiến chúng ta cảm động”, Tiến sĩ Trimble nói.

Âm nhạc cổ điển gắn liền với cảm xúc. Tiến sĩ Trimble cho rằng “phản ứng thực tế mà chúng ta có đối với âm nhạc gần như siêu việt”.

Âm nhạc cổ điển có thể hiệu quả hơn các loại nhạc khác trong việc giảm trạng thái căng thẳng và lo âu bởi vì loại nhạc này thường mang lại những giây phút thư thái và trầm tĩnh. “Mỗi tác phẩm đều có những đoạn chậm rãi giúp cho quý vị cảm thấy thư thái”, cô James nói. Ở một số nơi thực hiện trị liệu nhất định, chẳng hạn như bệnh viện, đặc biệt là trong các phòng chăm sóc đặc biệt, các tác phẩm của Mozart, Bach và một số nhà soạn nhạc cổ điển người Ý thường được ưa thích bởi tác dụng giảm căng thẳng và giảm đau vượt trội.

Ông Jonathan Liu, một bác sĩ Trung y (TCM) kiêm bác sĩ châm cứu ở Canada, nói với The Epoch Times rằng xuyên suốt lịch sử, âm nhạc cổ điển luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc chữa bệnh. Loại âm nhạc này còn có thể gợi lên cảm giác thiêng liêng, truyền đi cảm xúc về lòng biết ơn và sự tôn kính.

Ngoài việc có thể cải thiện chức năng não và giảm căng thẳng, âm nhạc cổ điển còn có thể gợi lên cảm giác thiêng liêng, truyền đi cảm xúc về lòng biết ơn và sự tôn kính. Dàn nhạc Giao hưởng Shen Yun biểu diễn tại Nhà hát Giao hưởng Boston hôm 13/10/2018. (Ảnh: Đài truyền hình NTD)

Sau khi cô Yonetani biểu diễn trong một buổi hòa nhạc lớn tại một nhà thờ ở châu Âu, có người đã kể lại cho cô một sự việc. Lúc cô đang chơi được nửa chừng, một người phụ nữ cao tuổi đang ngồi giữa khán giả từ từ quỳ xuống đất, nhắm mắt thành tâm cầu nguyện. “Cá nhân tôi, việc biểu diễn những kiệt tác như bản concerto cho violin của Beethoven hay Bach Chaconne đều gợi lên cảm giác kinh ngạc”, cô Yonetani bày tỏ.

Đằng sau sự khuấy động của cảm xúc là một loạt chất được sản sinh ra trong não.

Âm nhạc thúc đẩy não tiết ra endorphin, enkephalin, dopamine và serotonin. Mỗi loại đều có tác dụng sinh học khác nhau, từ việc tạo ra niềm vui và cảm giác thư thái cho đến giảm bớt sự khó chịu trên thân thể và giúp ngủ ngon.

Ông Sugaya đề cập rằng việc thưởng thức một buổi hòa nhạc cổ điển là điều lý tưởng cho những cuộc hẹn hò bởi vì dopamine được tiết ra trong não có thể khiến chúng ta trông quyến rũ hơn trong mắt đối phương. Nhạc hay còn có thể làm tăng oxytocin, một loại hormone tình yêu.

“Bộ não có rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác mà nhân loại chưa khám phá hết”, ông Liu nói.

Việc dopamine được tiết ra sẽ tạo nên cảm giác hạnh phúc và phát ra những tia năng lượng trong hệ thống nhận thức và khen thưởng của bộ não. Cô James giải thích rằng khi người ta cảm thấy lạnh sống lưng hay run người giữa lúc đang đắm chìm trong âm nhạc cổ điển, họ đang trải qua một hiện tượng trong đó hệ thống khen thưởng của não được kích hoạt hoàn toàn và bị kích thích bởi một trải nghiệm thú vị như vậy.

Không gì có thể sánh được với một buổi hòa nhạc trực tiếp … bởi việc cảm thụ được sự trải nghiệm, niềm vui, và sự phấn khích tốt nhất.

Cô Clara James, nhà thần kinh học, từng là một nghệ sĩ vĩ cầm chuyên nghiệp.

Trái ngược với tác dụng của nhạc cổ điển là giúp giảm lo âu và trầm cảm, một số thể loại nhạc rock hiện đại mang lại sự phấn khích và u sầu quá mức. Khi thảo luận về sở thích của giới trẻ dành cho âm nhạc mang tính kích thích, Tiến sĩ Trimble nói: “Tôi không cho rằng loại nhạc đó có ích cho trạng thái cảm xúc của quý vị”. Thay vào đó, ông lại cho rằng loại nhạc này khơi dậy sự phẫn nộ và những cảm xúc tiêu cực.

Một số thể loại nhạc hiện đại gọi là New Age (Tân Thời đại) cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cảm xúc.

Trong một nghiên cứu cũ hơn, 144 người tham gia ở nhiều độ tuổi khác nhau được nghe các thể loại nhạc khác nhau trong 15 phút, điền vào cùng một bảng câu hỏi trước và sau khi nghe. Kết quả cho thấy âm nhạc cổ điển làm giảm đáng kể cảm giác căng thẳng. Ngược lại, nhạc New Age, mặc dù giúp giảm cảm giác căng thẳng và thù nghịch, nhưng lại làm giảm sự minh mẫn tinh thần và sức sống của con người. Nhạc rock không chỉ làm tăng đáng kể cảm giác thù nghịch, mệt mỏi, buồn bã và căng thẳng mà còn làm giảm sự minh mẫn tinh thần và sức sống cũng như cảm giác biết quan tâm và thư thái của con người.

Chú thích hình minh họa: Sự thay đổi về cảm xúc và tinh thần sau khi nghe nhạc cổ điển (cột màu vàng), nhạc rock (cột màu xanh dương), và nhạc New Age (cột màu xám). Trục tung: Tỷ lệ thay đổi; Trục hoành (từ trái qua phải): Biết quan tâm — Sự minh mẫn tinh thần — Cảm giác thư thái — Sức sống — Cảm giác thù nghịch — Mệt mỏi — Buồn bã — Căng thẳng.

Không có gì là huyền bí

Cô James khuyến khích mọi người nên đưa âm nhạc cổ điển hòa vào cuộc sống thường nhật của mình.

Đối với người bình thường, âm nhạc cổ điển không có gì là huyền bí hay khó hiểu cả; nhiều tác phẩm cổ điển thực sự khá dễ nghe. “Một người chưa từng học nhạc vẫn có thể cảm nhận được âm nhạc rất tốt”, cô nói.

Cô Yonetani cũng cho rằng âm nhạc cổ điển từ thời Cổ điển vốn được dùng làm hình thức giải trí cho giới quý tộc, khiến các tác phẩm của các nhà soạn nhạc như Mozart và Joseph Haydn trở nên khá dễ nghe và thú vị. Hơn nữa, âm nhạc cổ điển thời kỳ Baroque của các nhà soạn nhạc như Bach và Handel là một lời tựa tuyệt vời dẫn người ta vào thưởng thức âm nhạc mặc dù có tính chất phức tạp hơn một chút. Âm nhạc cổ điển từ thời kỳ Lãng mạn, với tiêu biểu là các nhà soạn nhạc như Brahms và Robert Schumann, mang đến vẻ đẹp và chiều sâu vô cùng.

Cô Yonetani chia sẻ một chi tiết đáng yêu về thói quen hàng ngày của mình. “Tôi và chồng vừa nghe nhạc vừa ăn sáng”. Ngoài ra, cô tin rằng nghe nhạc cổ điển trên đường đi làm có thể là một cách bổ ích để cảm thụ vẻ đẹp và chiều sâu của loại nhạc này.

Đáng chú ý, cả cô Yonetani và cô James đều nói về sức hấp dẫn to lớn của các buổi hòa nhạc trực tiếp.

“Không gì có thể sánh được với một buổi hòa nhạc trực tiếp”, cô James nhấn mạnh. Cô cho rằng cách tốt nhất để thưởng thức âm nhạc cổ điển là tại một buổi hòa nhạc. Mọi người có thể chuyên chú nghe mà không bị phân tâm, hòa mình vào âm nhạc và màn trình diễn sống động của các nghệ sĩ, từ đó cảm thụ được “trải nghiệm, niềm vui, và sự phấn khích tốt nhất”.

(Theo The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.theepochtimes.com/health/classical-music-alters-the-brain-heres-how-5632847?ea_src=author_manual&ea_med=related_stories