Tác giả: Huệ Kiếm
[ChanhKien.org]
Ba, một trong tam bảo của đất: Thủy
Bộ chữ: “丶(chủ)、乙 (ất)、水 (thủy)”
Nước, xưa nay vốn luôn được bách gia chư tử ca tụng và noi theo, các luận thuật như “Thượng thiện nhược thủy”, “Binh hình như nước”, “Đắc thủy vi thượng”,… đều thể hiện được phẩm chất đặc tính chí thiện chí mỹ mà nước có như ân trạch, khiêm nhượng, hòa ái, linh hoạt,… Dưới đây chúng ta sẽ bắt đầu từ bản thân chữ Hán, quan sát một chút để xem chữ thủy “水” truyền tải cho chúng ta những thông điệp gì.
Để tạo tiền đề, chúng ta trước tiên hãy xem bộ chữ chủ (丶) và chữ ất (乙).
Bộ chữ chủ (丶): là bộ chữ tượng hình chỉ những vật thể ở trạng thái hạt với số lượng lớn có thể tồn tại ly tán. Giọt nước, hạt gạo, mảnh vụn, và các quần thể khác. Nghĩa tiếng Việt là một nét chấm.
Chữ mễ (米 giáp cốt văn
): Giáp cốt văn ghép từ chữ nhất 一 và chủ 丶, sáu nét chủ 丶 tách rời hai phía trên dưới chữ nhất. Nghĩa tiếng Việt là hạt, hạt gạo. Chữ nhất tượng hình cho bông lúa, nét chủ 丶 tượng hình cho hạt lúa. Biểu thị cho các vật thể nhỏ dạng hạt được hình thành sau khi bóc vỏ cây ngũ cốc. Các hạt lương thực phân tán hoặc tập hợp lại.
Chữ tiểu (小 giáp cốt văn
): Giáp cốt kim văn ghép từ ba nét chủ 丶. Nghĩa tiếng Việt là nhỏ, bé. Vật thể ở trạng thái quy mô điểm, giọt, cực kỳ nhỏ bé. Trái nghĩa với đại (lớn).
Chữ thiểu (少 giáp cốt văn): Giáp cốt kim văn ghép từ bốn nét chủ 丶. Nghĩa tiếng Việt là ít. Số lượng không đáng là bao, số lượng không lớn. Trái nghĩa với đa (nhiều).
Có bộ chữ tự thân nó là chữ Hán. Có bộ chữ lại không phải là chữ Hán. Giống như bộ chữ chủ này ở trên, bởi không chỉ một lần tham gia cấu tạo chữ Hán và có hàm nghĩa minh xác, do đó tuy không phải là một chữ Hán, nhưng vẫn hình thành một bộ chữ.
Bộ chữ ất (乙): đồng nghĩa với chữ ất, mang ý nghĩa uốn lượn, khoan sâu, cắm chặt vào, men theo khe hở mà tiến vào một cách mạnh mẽ. Tham khảo nghĩa của từ này ở dưới.
Chữ ất (乙 giáp cốt văn): Chữ tượng hình, giáp cốt kim văn giống như một dòng chảy uốn cong kéo dài. Nghĩa tiếng Việt là Ất, thứ hai (thiên can). Chỉ trạng thái chen chúc, khoan phá.
Chữ thủy (水 giáp cốt văn): Giáp cốt kim văn tiểu triện ghép từ chữ ất 乙 và bốn nét chủ 丶. Nghĩa tiếng Việt là nước. Nét chủ 丶 giống giọt nước, ất 乙 giống dòng chảy. Biểu thị một loại vật chất dạng lỏng có thể phân tách phân tán thành các hạt nhỏ, dòng chảy tự do, có năng lực thẩm thấu, khoan phá cường đại, có thể uốn khúc lưu động.
Chữ xuyên (川 giáp cốt văn): Giáp cốt kim văn tiểu triện ghép từ ba chữ ất 乙 giống như trạng thái lưu hành của nước. Nghĩa tiếng Việt là sông. Biểu thị trạng thái dòng chảy song song, quán thông, thuận chiều không rối loạn. Giản lược của từ hà xuyên 河川: dòng sông. Giản lược của từ sơn xuyên 山川: mạch núi.
Chữ trát (札), tiểu triện ghép từ chữ mộc 木 (gỗ) và chữ ất 乙. Nghĩa tiếng Việt là bảng gỗ nhỏ, cái trát. Đây là thẻ gỗ thời xưa dùng để ghi văn bản tóm tắt, cắm thả vào trong ống để lấy ra sử dụng linh hoạt. Mượn dùng để biểu thị trạng thái giống như cắm thả, bó buộc lại.
Vì để khiến mọi người lĩnh hội được tư duy giải chữ, phần lớn thời gian người viết sẽ sử dụng mạch tư duy hướng dọc, tức là đi từng bước từ các bộ chữ đơn giản đến các bộ chữ tổ hợp phức tạp hơn, để thuận nước đẩy thuyền, khởi tác dụng có lợi nhờ nương theo thế sẵn có mà dẫn dắt. Thường thì phải đến cấp độ cuối cùng mới có thể bắt đầu triển khai mạch tư duy hướng ngang. Nhưng trên thực tế, các bộ chữ tại mỗi một cấp độ đều có mạch liên kết theo chiều ngang nên phương thức tổ hợp của các bộ chữ trong chỉnh thể là giao thoa ngang dọc, rối rắm phức tạp, tùy ý sử dụng khi cần thiết. Hiện tại hình thức của loạt bài này không cách nào khiến cho sự liên hệ các bộ chữ được tiếp nối liên tục, không đứt đoạn. Chỉ đến khi những giải nghĩa từ ngữ này được biên soạn thành từ điển trong tương lai, hệ thống trạng thái mạng lưới được hình thành mới có thể mang lại độ tự do tra cứu tùy ý hơn nữa.
Bộ chữ thủy thuộc về bộ chữ có số lượng vô cùng lớn. Như đã trình bày ở trên, sự phức tạp trong tổ hợp bộ chữ và việc chúng ta phải chọn một trong nhiều mạch để giải sẽ dẫn đến việc rất nhiều bộ chữ chưa được trình bày trước đó xuất hiện ở đây. Đối với việc này mọi người có có thể dành chút thời gian lĩnh hội, sau đó kiểm nghiệm kết hợp với các bài viết sau này.
Bộ chữ thủy (水), đồng nghĩa với chữ thủy, những thứ liên quan đến nước. Tham khảo nghĩa của từ này ở trên.
Chữ đạo (盗), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 (nước), chữ khiếm 欠 (khiếm khuyết) và chữ mãnh 皿 (chén, bát). Nghĩa tiếng Việt là trộm cắp, ăn trộm. Khiến cho chất lỏng ở trong đồ đựng xuất hiện sự hao hụt. Mượn đó biểu thị việc làm cho những sự vật dưới trạng thái được giám sát bị đánh cắp.
Chữ ương (泱), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 (nước) và chữ ương 央 (trơ trọi). Nghĩa tiếng Việt là mênh mông mặt nước. Ở giữa toàn là nước, bị nước bao vây. (Ương ương đại quốc 泱泱大国, hình dung sự to lớn của một đất nước, bốn mặt đều là biển cả).
Chữ trở (沮), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ thả 且. Nghĩa tiếng Việt là ngăn, cản trở. Dòng nước gặp sự trở ngại 阻 (沮洳: nước gặp trở ngại mà bị xâm nhập, chỉ vùng đất trũng) (沮丧: chán nản, nước gặp trở ngại mà mất đi năng lực tiến triển, biểu thị bỏ cuộc giữa chừng, không thể đi tiếp).
Chữ giáp (浃), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ hiệp 夹 (kẹp lại). Nghĩa tiếng Việt là thấu, ướt sũng. Bị nước ép lại. (长波浃渫: hình dung bị nước ép vào mà rỉ thoát ra).
Chữ tiết (泄), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ thế 世 (thế hệ). Nghĩa tiếng Việt là thoát ra, chảy ra. Vật chất dạng lỏng phân thành dòng, tản ra, từ trong dòng chính mà phân ly.
Chữ cô (沽), tiểu triện kim văn ghép từ thủy 水 và cổ 古 (cổ xưa). Nghĩa tiếng Việt là mua (chất lỏng). Đóng gói chất lỏng (chỉ tình huống khi mua bán nước hoặc rượu, sau khi xác định liều lượng tiến hành đóng gói)
Chữ diểu (淼), tiểu triện ghép từ ba chữ thủy 水. Nghĩa tiếng Việt là (nước) mênh mông. Chỉ khối nước và thế nước bao la, bát ngát của nó.
Chữ hồng (洪), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ cộng 共 (cộng, thêm). Nghĩa tiếng Việt là to lớn. Chỉ dòng nước lớn có thế của mặt nước hình vòng cung (Không ngừng nâng lên, có thể nâng vật lên khi va chạm).
Chữ cấp (汲), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ cập 及 (đạt đến). Nghĩa tiếng Việt là múc nước, tát. Khiến nước chuyển động theo và đi lên, dẫn nước.
Chữ hạm (泔), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ cam 甘 (vị ngọt). Nghĩa tiếng Việt là nước rửa bát, nước vo gạo. Nước hữu cơ chứa các thành phần có thể tận dụng (nước sau khi vo gạo, rửa rau, các loại lương thực,…)
Chữ quyết (決、决), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ quyết 夬. Nghĩa tiếng Việt là quyết, quyết định. Thể của nước (khi phá vỡ bờ kè, đường ống…) tạo thành các vết nứt. Một hình thức diễn đạt chung vượt quá phạm trù ban đầu và tạo ra một tình thế cục diện mới. Viết tắt của các cụm từ (决裂: quyết liệt) (诀别: tách biệt) (决战: quyết chiến) (决定: quyết định) (坚决: kiên quyết).
Chữ mạt (沫), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ mạt 末 (ngọn, vụn vặt). Nghĩa tiếng Việt là bọt. Những hạt li ti trong nước, bọt nước.
Chữ tịch (汐), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ tịch 夕 (đêm). Nghĩa tiếng Việt là thủy triều đêm. Thủy triều vào ban đêm.
Chữ phán (泮), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ bán 半 (một nửa). Nghĩa tiếng Việt là chia, tan. Bị nước phân thành hai phần (Trích “Kinh thi – Vệ Phong”, 隰则有泮: Những nơi thấp có độ ẩm cao sẽ bị nước tích tụ chia thành hai khu vực nước bên này và bên kia. Trích “Kinh thi – Bội Phong”, 迨冰未泮: đợi cho đến khi băng chưa bị nước làm nứt).
Chữ oa (洼), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ khuê 圭 (cái khuê, đồ vật xưa, dùng để đựng thóc). Nghĩa tiếng Việt là trũng, lõm xuống. Trong lòng đất có những vết lõm nông, thấp phân bố liên tục, dễ bị tích tụ nước. Nhiều vũng nước khác nhau.
Chữ khấp (泣), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ lập 立 (đứng). Nghĩa tiếng Việt là khóc, rơi lệ. Nước mắt thẳng đứng và rơi xuống theo chiều dọc (chảy xuống).
Chữ chú (注), tiểu triện ghép từ chữ thủy 水 và chữ chủ 主. Nghĩa tiếng Việt là đổ, chảy, rót vào. Khiến cho chất lỏng hình thành hình trụ (Để căn chỉnh đổ vào với dòng chảy thẳng đứng từ trên xuống dưới). Ý chỉ tương tự rót vào một điểm xác định.
Chữ cửu (氿), tiểu triện ghép từ thủy 水 và cửu 九. Nghĩa tiếng Việt mang nghĩa nước chảy. Chỉ nước chảy ra từ vị trí phía sau, tối và bị che khuất.
Chữ nhiễm (染), tiểu triện ghép từ thủy 水, cửu 九 và mộc 木. Nghĩa tiếng Việt là nhiễm, nhuộm. Khiến cho chất lỏng (có màu sắc) xâm nhập vào kết cấu vân và các khoảng trống giữa các thành phần của vật phẩm (bằng gỗ), hình thành sự bám dính của sắc tố.
Chữ xá (汊), tiểu triện ghép từ thủy 水 và xoa 叉 (cái nĩa). Nghĩa tiếng Việt là nhánh sông. Nơi nhánh nước được phân ra từ dòng nước, có hình cái nĩa.
Chữ trấp (汁), tiểu triện ghép từ thủy 水 và thập 十 (số mười). Nghĩa tiếng Việt là nước ép. Tên gọi chung cho các chất lỏng khác nhau (có chứa các thành phần vật chất nhất định).
Chữ hàn (汗), tiểu triện ghép từ thủy 水 và can 干 (mạo phạm). Nghĩa tiếng Việt là mồ hôi. Hiện tượng tiết chất lỏng trên bề mặt cơ thể xảy ra khi do can dự mãnh liệt (quá trình trao đổi chất bên trong cơ thể bị cản trở do vận động mạnh hoặc nhiệt độ cao).
Chữ triêm (沾), tiểu triện ghép từ thủy 水 và chiếm 占 (chiếm cứ). Nghĩa tiếng Việt là thấm ướt. Nước bám vào một điểm cục bộ nhỏ, cụ thể trên một vật thể.
Chữ tù (泅), tiểu triện ghép từ thủy 水 và tù 囚 (tù nhân). Nghĩa tiếng Việt là bơi, lội. Tình trạng ở trong nước bị nước bao vây.
Những chữ này không phải là những ký tự Hán tự duy nhất thuộc về bộ chữ thủy, và vẫn còn nhiều ký tự khác cần được thu thập và phân loại. Vì căn cứ giải thích nghĩa của từ trong bài viết này luôn dựa trên sự tổ hợp tự thân các bộ chữ nên nó có đặc điểm là khách quan, đầy đủ, có thể tái hiện và tóm lược. Vì vậy, dù có bao nhiêu chữ Hán có bộ thủy, người đọc cũng không khó để suy một mà ra ba, hé mở những ảo diệu của nó. Nói rộng ra, tất cả các ký tự chữ Hán đều không phải là ngoại lệ, tất nhiên là ngoại trừ những tự hình bị thay đổi một cách thô bạo.