Tác giả: Kim Tiên
[ChanhKien.org]
Trong “Đạo Đức Kinh” thường hay nhắc đến chữ Vương (王), như “Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kỳ thiện hạ chi” (tạm dịch: Sông biển có thể làm vua của trăm sông, là vì nó giỏi ở chỗ ở thấp), “Vũ trung hữu tứ đại, Thiên đại, Địa đại, Đạo đại, Vương diệc đại. Vũ trung hữu tứ đại, nhi Vương cư kỳ nhất yên” (tạm dịch: Trong vũ trụ có bốn cái lớn: Trời lớn, Đất lớn, Đạo lớn, Vương cũng lớn. Trong vũ trụ có bốn cái lớn, mà Vương chiếm một chỗ trong đó), v.v. Tác giả trước đây cho rằng “Đạo Đức Kinh” là một quyển sách giảng về tu luyện của Đạo gia, còn chữ “Vương” là một loại địa vị thế tục, vì sao có thể được nhắc đến nhiều lần như vậy trong một quyển sách tu luyện? Sau này, khi tìm hiểu kỹ hơn về chữ “Vương” mới phát hiện rằng nó còn có hàm nghĩa thâm sâu hơn.
Hàm nghĩa chữ “Vương”
Tác giả nhận thấy hàm nghĩa của chữ “Vương” không giống các chữ khác, không phải càng cổ xưa càng đúng.
Diễn biến tự hình của chữ “Vương” từ những tư liệu tra cứu được trên mạng như sau:
Dựa theo phân tích của nhiều nhà văn tự học, tự hình của chữ “Vương” (王) từ thời nhà Thương đến Tây Chu kỳ thực là hình dạng của một chiếc đại phủ (rìu lớn). Đại phủ tượng trưng cho chinh chiến và sát phạt, hàm ý rằng địa vị và quyền uy của “vương giả” có được là nhờ chinh chiến và sát phạt, đồng thời cũng được duy trì bằng chinh chiến và sát phạt. Người viết không phủ nhận cách lý giải này. Có lẽ trên thế gian, trước khi “vương đạo” chân chính được truyền bá thì hàm nghĩa của chữ “Vương” mang theo bạo lực và máu tanh, là một loại văn hóa mang tính rất tiêu cực.
Tuy nhiên, văn hóa không chính thì cần được quy chính. Xét từ diễn biến tự hình của chữ “Vương”, bắt đầu từ thời Xuân Thu, bộ phận phía dưới tượng trưng cho đại phủ đã được thay thế bằng một nét ngang. Sau khi nhà Tần thống nhất chữ viết, chữ “Vương” luôn mang hình dáng ba nét ngang, một nét dọc. Không chỉ về mặt tự hình những nhân tố tiêu cực vốn có của chữ “Vương” đã được giảm bớt; mà về mặt hàm nghĩa văn tự, cách giải thuyết đối với chữ “Vương” cũng được gán cho những nội hàm hoàn toàn khác biệt.
Trong “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận thời Đông Hán đã trích dẫn cách nói của Đổng Trọng Thư và Khổng Tử như sau:
“Nơi mà thiên hạ quy hướng về. Đổng Trọng Thư viết: ‘Người xưa khi tạo chữ, vẽ ba nét và nối liền ở giữa gọi là vương. Ba nét ấy là trời, đất, người; kẻ thông suốt và kết nối cả ba chính là vương.’
Khổng Tử viết: ‘Dùng một vạch xuyên suốt ba nét thì gọi là vương.’ Phàm những chữ thuộc về vương đều lấy vương làm bộ.”
Theo “Thuyết Văn Giải Tự”, ba nét ngang trong chữ “王” lần lượt đại diện cho tam tài (三才): Thiên (trời), Địa (đất), và Nhân (người), còn nét dọc ở giữa biểu thị việc tham thông (tham gia/hỏi ý kiến và kết nối) giữa trời, đất và người. Từ đó có thể thấy, ý nghĩa (chân nghĩa) mới của chữ “王” không nằm ở việc sát phạt hay chinh chiến mà nằm ở cảnh giới chứng ngộ “Đạo” (hoặc “Pháp”). Chỉ khi bản thân chứng ngộ Đạo đạt đến cảnh giới tham thông tam tài mới có thể gọi là “Vương” theo ý nghĩa thực sự. Một bên là chính diện, một bên là phụ diện — đây chính là một sự đảo ngược lớn trong hàm nghĩa của chữ “Vương”, đồng thời cũng liên quan đến một lần canh tân của văn hóa chính thống nhân loại. Có lẽ độc giả sẽ nghĩ: Từ xưa đến nay, bất kể ở Trung Quốc hay nước ngoài, những “vương giả” trên thế gian để giành được địa vị thống trị hoặc để duy trì uy quyền địa vị của mình thì sao có thể thiếu chinh chiến và sát phạt? Tình hình thế gian có lẽ là như vậy, nhưng tác giả cho rằng việc các bậc tiên hiền xưa gán cho chữ “vương”(王) chính nghĩa và chân nghĩa chính là nỗ lực để chính đạo lưu hành trong thế gian, đồng thời cũng thông qua chữ “王” để nói với thế nhân một lý cao hơn. Ngoài thế gian còn tồn tại một xã hội cao đẹp hơn, “Vương” nơi đó không dựa vào uy quyền để cai trị, mà dựa vào Đạo và Pháp để cai trị — đó là “Đạo Vương” hoặc “Pháp Vương”. Trong 《Đạo Đức Kinh》 có đề cập: “Vũ trung hữu tứ đại: Thiên đại, Địa đại, Đạo đại, Vương diệc đại”. Tại sao “Vương” trong “Đạo Đức Kinh” lại là một trong “tứ đại”, có thể đặt cạnh với Đạo? Bởi vì “Vương” ở đây chính là “Pháp Vương”. Người viết cho rằng, việc chữ “Vương” được các bậc tiên hiền mang đến chính nghĩa mới có hai mục đích: Thứ nhất, hướng dẫn con người trong nhân thế (bao gồm cả người thống trị và người bị thống trị) hướng về Đạo, hướng về Pháp chứ không phải để tôn sùng vũ lực. Thứ hai, có lẽ cũng là mượn đó để nói với thế nhân rằng: “Vương” trong nhân thế kỳ thực còn có thân phận và sứ mệnh cao hơn! Thực ra trong “Thánh Kinh” cũng có đề cập: “Chúa Kitô sẽ đích thân làm Vương”.
Tất nhiên, người viết còn có một cách lý giải khác: Chữ “vương” ngày xưa từng đại diện cho việc sát phạt và chinh chiến, mang ý nghĩa phụ diện tiêu cực; sau đó mới được cải chính thành người tham thông tam tài: Thiên, Địa, Nhân, mang ý nghĩa chính diện. Sự thay đổi chính diện, phụ diện này có lẽ chính là biểu hiện của sự tương sinh tương khắc, đối lập âm dương, chính phụ trong vũ trụ. Bởi vì trong thế gian có vua tốt, vua chính, đồng thời cũng có vua xấu, vua tà; ở cao tầng thì có Pháp vương, nhưng cũng có Ma vương, khủng bố đại vương v.v… Đối với Ma vương, cách hành sự chủ yếu có các biểu hiện giết chóc, chinh chiến, bạo lực, ác, loạn, v.v. Chữ “Vương” trong bài viết này chủ yếu lấy nội hàm chính diện làm chính.
“Chủ” (主), “Hoàng” (皇)
Tại nhân gian, kẻ làm người cai trị được gọi là “Vương” (王), thống lĩnh một phương đất đai. Tuy nhiên, ở trên “Vương” còn có những tồn tại cao hơn được gọi là “Chủ” (主) hoặc “Hoàng” (皇). Từ góc độ tự hình, “Chủ” hoặc “Hoàng” chính là chữ “Vương” (王) thêm lên phía trên một chấm hoặc thêm chữ “Bạch” (白) — (chữ “bạch” trong cổ văn có ý nghĩa là đầu hoặc thủ). Điều này ngụ ý rằng họ ở một tầng diện còn cao hơn so với “Vương”. Đây là một hiện tượng rất thú vị trong truyền thống Trung Quốc. Ví dụ, thời Chu có rất nhiều nước chư hầu, như nước Tấn, nước Yên, nước Tống, v.v., mỗi nước chư hầu đều có một vị vương. Tuy nhiên, toàn bộ triều Chu còn có một vị thủ lĩnh, gọi là Chu Thiên tử. Địa vị của Chu Thiên tử là “thiên hạ cộng chủ” (vị chủ chung của thiên hạ), “Vương” của các nước chư hầu đều phải quy thuận vị cộng chủ Chu Thiên tử này.
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, vị thủ lĩnh của thiên hạ được gọi là “hoàng đế”. “Hoàng” (皇) kỳ thực cũng mang ý nghĩa là “Chủ” (主), ở trên “Vương” (王). Tuy nhiên, Tần Thủy Hoàng đã bãi bỏ chế độ phân phong, thực hành chế độ quận huyện. Về sau, hiện tượng dưới “hoàng” vẫn có người được phong làm “vương” cũng có, nhưng rất ít, mà phần lớn chỉ có hư danh, chứ không có thực quyền. Chúng ta đều biết, thiên hạ rất rộng lớn, một vị “Chủ” tự mình quản lý là không thể quản nổi, vì vậy phân cho nhiều “Vương” để mỗi người quản lý vùng đất của mình mới hợp lý hơn. Thế nhưng từ sau Tần Thủy Hoàng, không còn “Vương” nữa, chúng ta lại phát hiện rằng văn hóa của mỗi hoàng triều lại càng thêm phong phú và rực rỡ. Vì sao lại như vậy? Người viết cho rằng: những “Vương” bên dưới “Hoàng” vẫn tồn tại, chỉ là sứ mệnh của họ không chỉ ở lĩnh vực chính trị mà còn mở rộng nhiều hơn sang lĩnh vực văn hóa. Người Trung Quốc coi trọng “chân tam bất hủ”, tức là “lập đức, lập công, lập ngôn”. Có thể thấy rất nhiều người có bản sự không chỉ giới hạn cuộc đời mình vào chính trị, mà mỗi người ở trong từng lĩnh vực xã hội đã tạo dựng nên những thành tựu của riêng mình, đặt nền móng cho văn hóa phong phú cho hậu thế, như văn học, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, y dược, âm nhạc… Những người đạt được thành tựu kiệt xuất trong một lĩnh vực nào đó có thể được gọi là “Vương”, cũng có thể được gọi là “Thánh” (“Thánh” (聖) cũng liên quan đến “Vương”), ví dụ như dược vương, trà thánh, thi thánh, v.v. Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc còn có một hiện tượng: đó là bất kỳ hình thức văn hóa nào, khi đạt đến tầng thứ cao đều sẽ thăng hoa lên tầng diện “Đạo” (道) hoặc “Pháp” (法). “Đạo” hoặc “Pháp” mới là căn bản để một loại văn hóa đề cao. Ví dụ, trong chuyện ngụ ngôn “Bào Đinh giải ngưu” (Bào Đinh mổ bò), đằng sau đao pháp điêu luyện của Bào Đinh chính là “Thần chi sở hảo giả đạo dã, cận hồ kỹ dã” (tạm dịch: Thứ mà Thần yêu thích chính là Đạo, vượt xa cả kỹ năng thông thường). Pháp sư Hoằng Nhất thời Dân Quốc khi sáng lập tạp chí “Bạch Dương” cho Trường Sư phạm số 1 tỉnh Chiết Giang đã viết “Bạch Dương Đản sinh từ”, câu đầu tiên chính là: “Kỹ tiến dư Đạo, văn dĩ lập ngôn” (tạm dịch: kỹ thuật đạt tới mức tinh vi sẽ tiệm cận với Đạo, văn chương dùng để truyền tải lời dạy của Thánh hiền), tức là nhắc nhở đông đảo thầy trò rằng: đằng sau những kỹ pháp âm nhạc, nhạc cụ mà họ học tập, cốt lõi chính là Đạo. Văn hóa truyền thống Trung Quốc có lẽ đã nói với chúng ta một điều: muốn trở thành “Vương” nhất định phải tu Đạo.
“Thánh” (聖)
Phần trên đã đề cập đến chữ “Thánh” (聖). Chữ “Thánh” cũng là một chữ có mối liên hệ mật thiết với chữ “Vương” (王). Từ góc độ tự hình mà xét, chữ “Thánh” chính là chữ “Vương” (王) phía trên thêm một bộ “nhĩ” (耳 – tai) và một bộ “khẩu” (口 – miệng). Vì vậy, chữ “Thánh” có lẽ mang hàm nghĩa phong phú hơn so với chữ “Vương”.
Đầu tiên, chữ “Thánh” (聖) lấy chữ “Vương” (王) làm cơ sở, điều này ngụ ý rằng “Thánh” giả trước hết phải đạt được thành tựu cực kỳ cao trong việc tu Đạo, “thánh” giả cũng trước hết là người tham thông tam tài thiên – địa – nhân. Mạnh Tử cho rằng “Thánh” giả phải là người đã đạt đến cảnh giới cực cao trong việc tu dưỡng ở một phương diện nào đó. Ông nhận định rằng có nhiều loại bậc “Thánh”. Trong “Mạnh Tử • Vạn Chương” có viết: Bá Di là “bậc Thánh thanh cao” (thánh chi thanh giả dã), Liễu Hạ Huệ là “bậc Thánh hòa ái” (thánh chi hòa giả dã), Y Doãn là “bậc Thánh gánh vác trách nhiệm” (thánh chi nhiệm giả dã); ba vị này lần lượt đạt đến cảnh giới cực cao ở ba phương diện thanh (清), hòa (和), nhậm (任), vì vậy được gọi là “Thánh”. Còn Khổng Tử, vì ở rất nhiều phương diện đều tu đạt đến cảnh giới cực cao nên “Khổng Tử được gọi là bậc tập đại thành”, tức là bậc hội tụ mọi sự hoàn mỹ nhất trong các Thánh nhân, do đó hậu thế tôn xưng ông là “Đại thành chí Thánh”.
Tiếp theo, “Thánh” (聖) giả mang sứ mệnh truyền đạt và giáo hóa. Chữ “Thánh” chính là chữ “Vương” (王) phía trên thêm một chữ “nhĩ” (耳 – tai) và một chữ “khẩu” (口 – miệng). “Nhĩ” thường dùng để nghe, còn “khẩu” dùng để nói; nhưng người viết cho rằng, “nhĩ” không chỉ là nghe, có lẽ hiểu chuẩn xác hơn là tiếp nhận; “khẩu” không chỉ là nói, mà nên hiểu là tuyên giáo mới chuẩn xác. Vậy đối tượng của việc tiếp nhận và tuyên giáo là ai? Người viết cho rằng chắc không phải là tiếp nhận thông tin từ nhân gian rồi truyền lên tầng thứ cao hơn, bởi vì những sinh mệnh ở tầng cao hơn có “Thần mục như điện”, tình hình nhân thế đã nằm gọn trong tầm mắt họ, không cần phải an bài người chuyên môn đi truyền đạt. Do đó, “Thánh” giả chính là người tiếp nhận tín tức từ tầng thứ cao hơn, sau đó truyền đạt và giáo hóa cho thế nhân. Những năm Trinh Quán triều Đại Đường, khi pháp sư Huyền Trang từ Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh về, Thái Tông Hoàng Đế đích thân viết bài “Đại Đường Tam Tạng Thánh giáo tự” để ca ngợi công trạng của ngài. Trong bài tự ấy, Thái Tông Hoàng Đế dùng hai chữ “Thánh giáo”. Chúng ta biết rằng, pháp sư Huyền Trang trải qua muôn vàn gian khổ, mang về Đại Đường chính là văn hóa tu luyện Phật gia. Chúng ta có thể hiểu rằng ngài đã đem văn hóa tu luyện Phật gia ở cao tầng về Đại Đường, tuyên giáo cho con dân Đại Đường, xứng đáng với hai chữ “Thánh giáo”.
Có một điều thú vị là người xưa đôi khi cũng gọi hoàng đế là “thánh”. Chẳng hạn, Lý Bạch trong bài thơ “Thượng Vân Nhạc” đã viết: “Trung Quốc hữu thất Thánh, bán lộ đồi hồng hoang.” Ý nói Trung Quốc từng xuất hiện bảy vị đế vương phi thường. Ngoài ra, Đường Cao Tông Lý Trị và Võ Tắc Thiên cùng nhau lâm triều, được gọi là “nhị Thánh lâm triều”; Khang Hy được tôn xưng là “Thanh Thánh chủ”, v.v. Người viết hiểu rằng có lẽ những vị đế vương này kỳ thực cũng gánh vác sứ mệnh truyền đạt văn hóa cao tầng, giáo hóa nhân thế. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến hàm nghĩa của chữ “Vương” (王) xảy ra sự chuyển biến lớn lao, đồng thời điều này cũng ngầm phù hợp với câu nói trong Kinh Thánh: “Chúa Kitô sẽ đích thân làm Vương”.
Chữ “Thánh” (聖) có lẽ còn mang những nội hàm ở tầng thứ cao hơn. Những gì đã nói ở trên là bậc “Thánh” giả ở thế gian, mang trong mình sứ mệnh truyền tải những thông điệp tầng cao xuống cho nhân gian, phương Tây không gọi là “Thánh” mà gọi là “tiên tri”. Lại còn có một loại “Thánh” giả khác, họ là những bậc Giác giả, trực tiếp thân hành đến thế gian để độ nhân, trực tiếp giảng Pháp truyền Đạo cho thế nhân. Tai của bậc “Thánh” này là để tiếp nhận nhu cầu giải thoát của người đời, còn miệng là để đích thân tuyên thuyết vô lượng diệu Pháp. Cả hai loại bậc “Thánh” này đều tồn tại ở cả phương Đông và phương Tây, ví như ở phương Tây cùng một thời đại có Chúa Kitô và nhà tiên tri John chính là lần lượt đại diện cho hai loại bậc “Thánh” này.
“Phong” (豐)
Người viết nhận thấy rằng còn có một chữ khác mang nội hàm ở tầng thứ cao hơn nữa, đó chính là chữ “Phong” (豐). Nói đến chữ “Phong”, có lẽ độc giả sẽ lập tức nghĩ ngay đến Trương Tam Phong!
Người viết hiểu rằng, tên của Trương Tam Phong là chữ “Phong” (丰) này, chứ không phải chữ “Phong” (豐) kia. Ở Đại Lục, quả thực có rất nhiều nơi chữ “Phong” (豐) đã bị thay thế bằng chữ “Phong” (丰) để sử dụng, nhưng Trương Tam Phong đích thực là chữ “Phong” (丰) này. Người viết đã tìm trên mạng các bản sao chụp từ cuốn “Trương Tam Phong Tiên Sinh Toàn Tập” thời nhà Thanh và cuốn “Tam Phong Toàn Thư” thời Dân Quốc, tất cả đều dùng chữ “丰” chứ không phải chữ “豐”.
Có rất nhiều phiên bản giải thích về cái tên Trương Tam Phong. Ví dụ, có một cách nói cho rằng vì Trương Tam Phong là một Đạo sĩ, nên hai chữ “Tam Phong” có liên quan đến các quẻ tượng: chữ “Tam” (三) ứng với quẻ Càn, còn chữ “Phong” (丰) chính là quẻ Càn bị một nét sổ thẳng đâm xuyên qua ở giữa, tạo thành quẻ Khôn, vì vậy “Tam Phong” mang ý nghĩa là Càn Khôn. Người viết không phủ nhận cách lý giải này, nhưng cho rằng có lẽ nó còn mang một tầng hàm nghĩa khác. Kết hợp với cách hiểu về chữ “Vương” (王) ở phía trên – chữ “Vương” là bậc thông suốt tam tài Thiên, Địa, Nhân – vậy thì điểm khác biệt giữa chữ “Phong” (丰) và chữ “Vương” (王) là gì? Khi đặt hai chữ này lên so sánh, ta liền phát hiện ra: so với chữ “Vương”, chữ “Phong” có phần trên nhô lên khỏi đầu và phần dưới cũng đâm xuống quá chân, điều đó có ý nghĩa gì? Chữ “Vương” tuy thông suốt Thiên, Địa, Nhân, nhưng phía trên vẫn bị Trời che phủ, phía dưới vẫn bị Đất nâng đỡ, không thể vượt ra ngoài trời đất; còn chữ “Phong” không chỉ quán thông Thiên, Địa, Nhân mà còn vượt ra ngoài cả trời đất, do đó “Phong” là một chữ mang tầng thứ cao hơn.
Nếu như trong chữ “Phong” (丰) vốn đã bao hàm cả trời đất (tức Càn Khôn), vậy thì hai chữ “Tam Phong” (三丰) sẽ không mang ý nghĩa là Càn Khôn nữa, vậy chữ “Tam” (三) lại biểu thị điều gì? Người viết hiểu rằng, chữ “Tam” có lẽ biểu thị cho “Đạo”(道) của Trương Tam Phong, bởi vì một bậc Giác giả của một pháp môn thường dùng ba chữ để khái quát Đạo hoặc Pháp của mình, ví như Pháp trong pháp môn của Thích Ca Mâu Ni dùng ba chữ “Giới, Định, Huệ” để khái quát. Đạo của Trương Tam Phong vừa quán thông cả Tam tài Thiên, Địa, Nhân, đồng thời lại vượt ra ngoài cả trời đất.
Bình luận:
Khai Thiên Phủ là pháp khí khổng lồ của Thần giới tại không gian cao tầng, có thần lực khai thiên tịch địa.
Hoàng Đế bình định Xi Vưu, là sự diễn dịch tập trung tại nhân gian, Võ vốn là vì chính mà trừ tà.
Cái rìu (đại phủ) và chữ “Vương” ở thế gian thời kỳ đầu là cùng một chữ, đó chỉ là sự thể hiện này mà thôi.
Đạo đức của người đời sau không còn tốt nữa, sự lý giải đối với chữ “Võ” đều đã sai lệch khỏi ý nghĩa chân thực ban đầu của Pháp, sự lý giải đối với chữ “Vương” và cái rìu tự nhiên cũng theo đó mà loạn.