[ChanhKien.org]
Bốn, tam bảo thứ hai của đất: Hỏa
Các bộ chữ: “火 (hỏa)、灰(hôi)、炎(viêm)、𤇾、勞 (lao)、粦 (lân)、赤 (xích)”
Thủy viết nhuận hạ, hỏa viết viêm thượng (tạm dịch: Nước có đầy đủ đặc tính sự thấm nhuần, hướng xuống dưới, lửa có đầy đủ đặc tính phát nhiệt, hướng lên trên). Lửa là một trạng thái vật chất có thuộc tính đối lập với nước nhưng có cùng ý nghĩa triết học. Các ký tự chữ Hán mà nó kết hợp luôn liên quan đến sự ấm áp, nhiệt liệt, tích cực và thậm chí là nóng nảy, dữ dội.
Bộ chữ hỏa (火): Trạng thái hoặc tình thế các loại có liên quan đến sự cháy. Nhiệt liệt. Tham khảo nghĩa của từ này.
Chữ hỏa (火, giáp cốt ): Chữ giáp cốt tượng hình trạng thái plasma ở nhiệt độ cao khi đốt cháy vật chất phát ra ánh sáng, nhiệt. Nghĩa tiếng Việt là lửa.
Chữ hôi (灰, , chữ triện
): Chữ tiểu triện ghép từ chữ hựu 又 (vừa, lại) và hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là tro, tàn tro. Vật chất tàn dư khi đốt do tác dụng của lửa (tức sau khi cháy).
Chữ viêm (炎, kim văn): Chữ kim văn tiểu triện ghép từ hai chữ hỏa 火 (lửa) trên và dưới. Nghĩa tiếng Việt là viêm, nóng nực. Ngọn lửa bốc lên. Nhiệt độ tăng mạnh.
Chữ xích (赤, giáp cốt): Chữ giáp cốt kim văn ghép từ chữ đại 大 (lớn) và chữ hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là màu đỏ. Biểu thị màu đỏ sẫm được tạo ra do đun nóng quá mức. (面红耳赤: Mặt đỏ tía tai, mặt và tai do máu dồn lên mà chuyển đỏ). Nghĩa mở rộng: từ lược dùng của 赤裸, khỏa thân, do không có quần áo che đậy mà hiển hiện ra hình thể màu da đỏ sẫm).
Chữ tai (灾): Tiểu triện ghép từ miên 宀 (mái nhà) và hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là tai họa. Nhà cửa bị cháy, mượn đó để chỉ những cảnh ngộ bất hạnh dẫn đến hậu quả mang tính hủy diệt.
Chữ sao (炒): Tiểu triện ghép từ hỏa 火 (lửa) và thiểu 少 (ít). Nghĩa tiếng Việt là xào, tráng, rang. Liên tục đảo lật thức ăn trong chảo nóng để giảm hấp thụ nhiệt (do đó tránh bị cháy cục bộ và giúp thức ăn chín đều).
Chữ thứ (庶, giáp cốt): Chữ giáp cốt kim văn ghép từ xưởng 厂 (xưởng, bãi) và chữ khẩu 口 (miệng) (tiểu triện ghép từ nhập 廿, ý nghĩa còn chính xác hơn) và chữ hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là đông, nhiều. Lửa nóng phát triển mạnh ở biên giới nhưng không lan sâu vào bên trong. Phân bố dày đặc ở tầng bề mặt. (庶民: thứ dân, những dân chúng trên mặt đất sinh sôi nảy nở).
Chữ diễm (焱, giáp cốt): Chữ giáp cốt ghép từ ba chữ hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là ngọn lửa nóng. Lửa cực kỳ nóng, ngọn lửa bùng lên dữ dội.
Bộ chữ hôi (灰), đồng nghĩa với từ hôi, liên quan đến tro tàn hoặc tình trạng tương tự, bị đốt cháy, phân hủy và tiêu tan thành hư vô. Tham khảo nghĩa của từ này ở trên.
Chữ khôi (恢): Tiểu triện ghép từ chữ tâm 心 (tim) và chữ hôi 灰 (bụi than). Nghĩa tiếng Việt là rộng lớn. Tư tưởng cho rằng đã hóa thành hư không rồi. (恢复: Khôi phục, trở về trạng thái ban đầu từ trạng thái tưởng như đã biến mất hoàn toàn) (天网恢恢: lưới trời lồng lộng, lưới pháp của thiên lý khiến con người cảm thấy hư vô, còn cảm thấy mờ mịt (dường như không tồn tại)).
Bộ chữ viêm (炎), đồng nghĩa với từ viêm, gia tăng sức nóng lên nhiều lần, tình thế cường thịnh, nhiệt liệt. Tham khảo nghĩa của từ này ở trên.
Chữ lân (粦, kim văn): Chữ kim văn tiểu triện ghép từ chữ viêm 炎 (nóng nực) và chữ suyễn 舛 (suyễn loạn). Ngọn lửa hành tung hỗn loạn, lơ lửng bay lên trên không xác định, chỉ lửa cháy do phốt pho, tục gọi là lửa ma trơi.
Chữ thảm (毯): Chữ tiểu triện ghép từ mao 毛 (lông) và viêm 炎 (nóng nực). Nghĩa tiếng Việt là cái thảm. Vải dệt bằng lông mao có độ dày dặn được gia cường.
Chữ đạm (淡): Chữ tiểu triện ghép từ thủy 水 (nước) và viêm 炎 (nóng nực). Nghĩa tiếng Việt là nhạt. Mức độ pha loãng nghiêm trọng với nước (khiến hàm lượng vật chất khởi tác dụng bị pha loãng và không còn cô đặc).
Chữ thuấn (舜, tiểu triện): Chữ tiểu triện ghép từ viêm 炎, phương 匚 (khung) và suyễn 舛. Nhãn cầu không ngừng di chuyển mạnh mẽ về tứ phía trong khung, đây là ký tự ban đầu của “瞬” (chớp mắt). Hiện nay nó đặc biệt đề cập đến người kế vị của đế Nghiêu, một trong Ngũ Đế thời thượng cổ; tương truyền mắt ông có hai đồng tử và tên của ông là Trọng Hoa.
Chữ đạm (啖): Chữ kim văn tiểu triện ghép từ khẩu 口 (miệng) và viêm 炎. Nghĩa tiếng Việt là ăn. Chỉ trạng thái ăn uống mãnh liệt (噍啖, tập trung vào một loại thực phẩm nhất định và ăn nó một cách ngấu nghiến).
Do chữ ghép bởi chữ thuấn chỉ có một, nên không lập thêm bộ thuấn, mà trực tiếp giải từ luôn như sau.
Chữ thuấn (瞬): Ghép từ chữ mục 目 (mắt) và thuấn 舜. Nhãn cầu chuyển động một lần gọi là một thuấn. (瞬间: chốc lát, trong nháy mắt)
Chữ viêm (炎): Do hai chữ hỏa ở trên dưới sắp xếp thành, ngoài ra còn có hai chữ hỏa ở bên trái phải sắp xếp thành, hiện nay không được sử dụng như một chữ độc lập, được xếp thành bộ chữ (𤇾).
Bộ chữ (𤇾): Kim văn ghép từ hai chữ hỏa 火 (lửa) và chữ nghệ 乂 (cai trị). Có thể hoạt động độc lập trong nội bộ phạm trù, đối với bên ngoài biểu hiện sinh sinh bất thức, trạng thái hỏa nhiệt.
Chữ (𤇾, kim văn): Kim văn ghép từ hai chữ hỏa 火 (lửa) và chữ nghệ 乂 (cai trị). Đom đóm sử dụng cơ chế hoạt động riêng để tạo ra bầu không khí ánh sáng và lửa bay đan xen lẫn lộn trong không trung. Đó là ký tự gốc của “荧” (le lói).
Chữ huỳnh (熒、荧): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ hỏa 火 (lửa). Nghĩa tiếng Việt là le lói. Trạng thái ánh lửa có thể tự sản sinh với cường độ yếu.
Chữ huỳnh (螢、萤): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ trùng 虫 (côn trùng). Nghĩa tiếng Việt là đom đóm. Một loại côn trùng bay có thể tự sản sinh phát ra ánh sáng.
Chữ doanh (營、营): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ lữ 吕 (xương sống). Một thể hệ được chia thành nhiều đơn vị và hoạt động độc lập. Nghĩa tiếng Việt là kinh doanh, doanh trại quân đội. Nghĩa là (sự vật, đặc biệt là sinh vật có cơ chế vận hành) có khả năng tự lực, phát triển và duy trì mạnh mẽ các hoạt động ở vị trí tương ứng. (军营: doanh trại quân đội, khi quân đội đóng quân, tạo nên các phân khu tương đối độc lập, có thể hoạt động độc lập; tức những đơn vị đóng quân và sinh hoạt).
Chữ doanh (塋、茔): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ thổ 土 (đất). Nghĩa tiếng Việt là mồ mả. Vùng đất dùng để xây dựng mộ phần và triển khai thi công, vận hành. Đất để xây mộ.
Chữ oanh (縈、萦, kim văn): Kim văn ghép từ bộ 𤇾 và chữ mịch 糸 (tơ). Nghĩa tiếng Việt là vòng quanh. Không ngừng tạo ra sự kết nối (縈繞: vương vấn, quấn quýt không rời, giữ cho không thể tan đi).
Chữ oánh (瑩、莹): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ ngọc 玉 (ngọc bội). Nghĩa tiếng Việt là trong suốt. Ngọc trai và ngọc bích có đặc tính tự tạo ra độ sáng riêng. (晶莹: óng ánh, lóng lánh).
Chữ vinh (榮、荣): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ mộc 木 (cây). Nghĩa tiếng Việt là phồn vinh. Trạng thái thực vật sinh cơ bừng bừng, phơi phới. Trái nghĩa với khô “枯”.
Chữ lao (勞、劳): Tiểu triện ghép từ bộ 𤇾 và chữ lực 力 (sức lực). Nghĩa tiếng Việt là nặng nhọc. Liên tục dùng lực vận doanh. Kéo dài công việc.
Bộ chữ lao (勞), đồng nghĩa với từ lao. Kéo dài công việc lao động, liên tục làm. Tham khảo nghĩa của từ này ở trên.
Chữ liệu (捞): Ghép từ bộ thủ 手 (tay) và chữ lao 勞 (nặng nhọc). Nghĩa tiếng Việt là kéo, vớt. Tay đưa lên liên tục dùng lực, kéo dài động tác kéo lực.
Chữ lão (涝): Ghép từ bộ thủy 水 (nước) và chữ lao 勞 (nặng nhọc). Nghĩa tiếng Việt là ngập úng. Nước mưa liên tục trút xuống, dẫn đến lượng nước mưa vượt quá mức.
Chữ lao (唠): Ghép từ bộ khẩu 口 (miệng) và chữ lao 勞 (nặng nhọc). Nghĩa tiếng Việt là nói nhiều. Miệng lưỡi cứ hoạt động không ngừng, thành ra nói mãi không thôi. (唠叨: lải nhải)
Bộ chữ lân (粦), cùng nghĩa với từ lân, liên quan đến lửa do cháy phốt pho hoặc tình huống tương tự, lấp lánh lập lòe thành từng đốm nhỏ phân bố trải rộng. Xem nghĩa của từ này ở trên.
Chữ lân (磷): Ghép từ bộ thạch 石 (đá) và chữ lân 粦 (lửa phốt pho). Nghĩa tiếng Việt là chất phốt pho. Một chất phi kim thuộc nhóm nitơ là thành phần tạo ra lửa phốt pho tức khí phosphine dễ bắt cháy ở nhiệt độ thấp.
Chữ lân (鳞): Tiểu triện ghép từ ngư 鱼 (cá) và lân 粦 (lửa phốt pho). Nghĩa tiếng Việt là hình vảy. Bề mặt thân cá bóng bóng sáng như lửa lân, có các vảy sừng cứng xếp ngay ngắn.
Chữ lân (粼, giáp cốt): Giáp cốt tiểu triện ghép từ lân 粦 và hai chữ ất 乙 (Mặt nước). Nghĩa tiếng Việt là (mặt nước) trong veo. Trạng thái gợn sóng lấp lánh, uốn lượn chuyển động lan ra.
Chữ lân (瞵): Tiểu triện ghép từ mục 目 (mắt) và lân 粦. Nghĩa tiếng Việt là nhìn trừng trừng. Miêu tả trạng thái mắt lóe lên như lửa phốt pho.
Chữ liên (憐、怜, kim văn): Chữ kim văn tiểu triện ghép từ lân 粦 và tâm 心 (tâm). Nghĩa tiếng Việt là tiếc thương. Tâm lý buồn hay tiếc thương như thấy ánh chạng vạng ngắn ngủi của lửa phốt pho.
Chữ lân (嶙): Chữ tiểu triện ghép từ sơn 山 (núi) và lân 粦 (lửa phốt pho). Nghĩa tiếng Việt là đá lởm chởm. Những tảng núi đá xếp thành từng lớp như vảy cá. Vì ý nghĩa của từ này xuất phát từ chữ lân 鳞 (hình vảy cá), nên nó được coi là từ được khởi tạo sau.
Chữ lân (辚): Chữ tiểu triện ghép từ xa 車 (xe) và lân 粦. Nghĩa tiếng Việt là lộc cộc (tiếng xe chạy). Tình trạng xe cộ dàn trải như vảy cá. Vì ý nghĩa của từ này xuất phát từ chữ lân 鳞 (hình vảy cá), nên nó được coi là từ được khởi tạo sau.
Chữ lân (鄰、邻): Tiểu triện ghép từ lân 粦 và ấp 邑 (thành thị). Nghĩa tiếng Việt là hàng xóm. Những ngôi nhà trong khu dân cư được sắp xếp nằm kề nhau, từng căn nối tiếp như vảy cá. Nghĩa hiện nay là viết tắt của cụm từ “邻居: hàng xóm, tức hộ gia đình sống ở dãy bên cạnh”. Vì ý nghĩa của từ này xuất phát từ chữ lân 鳞 (hình vảy cá), nên nó được coi là từ được khởi tạo sau.
Chữ lân (遴) Tiểu triện ghép từ xước 辵 (di chuyển) và lân 粦. Nghĩa tiếng Việt là lựa chọn cẩn thận. Trạng thái di chuyển xung quanh và đi cạnh nhau. (遴选: Tuyển chọn, chọn từ nhiều người đến; 人官虽行必遴: quan viên khi xuất hành nhất định phải tiền hô hậu ủng). Vì ý nghĩa của từ này xuất phát từ chữ lân 鳞 (hình vảy cá), nên nó được coi là từ được khởi tạo sau.
Bộc chữ xích (赤), cùng nghĩa với từ xích, những thứ có liên quan đến màu đỏ. Tham khảo nghĩa của từ này ở trên.
Chữ xá (赦): Tiểu triện ghép từ xích 赤 (đỏ) và phốc 攴 (đánh nhẹ). Nghĩa tiếng Việt là xá miễn. Phạm trù khiến liệt vào màu đỏ, chỉ vào thời cổ đại dùng chu sa đỏ để đánh dấu đối với những người bị phán tử hình. Viết tắt của từ 赦免: xá miễn, miễn án tử hình.
Chữ hách (赫): Tiểu triện ghép từ hai chữ xích 赤 (đỏ). Nghĩa tiếng Việt là hiển hách, hống hách. Hình dung ánh lửa đỏ rực, tình thế nóng đỏ đến cực độ. Các chữ ghép từ bộ chữ xá 赦 (xá miễn), hách 赫 (hiển hách), và thứ 庶(đông, nhiều) khá là ít, nên không tiếp tục xếp vào bộ chữ, mà giải chữ luôn như sau.
Chữ thích 螫: Tiểu triện ghép từ xá 赦 và trùng 虫 (côn trùng). Độc trùng châm đốt, chích vào da gây tấy đỏ, sưng tấy và chảy máu.
Chữ hách (嚇、吓): Ghép từ khẩu 口 (miệng) và hách 赫 (hống hách). Nghĩa tiếng Việt là hù, dọa dẫm. Khiến ngữ khí và thanh thế hung hăng hống hách. Dọa nạt khiến kinh hãi. Kinh sợ. Chữ già (遮): Tiểu triện ghép từ xước 辵 (di chuyển) và thứ 庶 (đông). Nghĩa tiếng Việt là che đậy. Tập trung và dàn trải dày đặc trên bề mặt khiến nó bị bao phủ. Che đậy.
Vì cách giải thích ở trên về nghĩa gốc của từ xá “赦” hoàn toàn trái ngược với nghĩa hiện nay nên tôi cần phải có lời giải thích đặc biệt. Nguyên nhân chủ yếu khiến nghĩa hiện tại của chữ lệch khỏi nghĩa gốc là do chữ liên tục bị lược bỏ sau khi tổ hợp từ, điều này khiến cho nhiều nghĩa phái sinh rất khác so với nghĩa gốc do bị nhiễm nghĩa của từ, thậm chí biến thành một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược. Ngoài xá “赦”, còn có tức “息”, vấn “紊”, bại “败”, lạm “滥”, dương “痒”,… tất cả đều trong tình trạng nghĩa của từ trước đây và hiện nay tương phản hoàn toàn. Khi giải thích đến những chữ này cùng với bộ chữ mà nó thuộc về, mọi người tự sẽ kiểm chứng được loại hiện tượng khiến người ta phải cảm thán này.