Tác giả: Lý Dực Vân
[ChanhKien.org]
Chu Du. (Ảnh: Thiên Ngoại Khách/The Epoch Times tổng hợp)
Sự gặp gỡ trong cuộc đời, nhìn bề ngoài thì là “ngẫu nhiên”, nhưng dường như lại mang một sự “tất nhiên” thật khó giải thích.
Tôn Kiên quanh năm chinh chiến ở Trung Nguyên, sau này lại bị Viên Thuật phái đi bôn ba khắp vùng Giang Hoài. Vì vậy, người con trai trưởng mới 14 tuổi của Tôn Kiên là Tôn Sách đã dẫn theo mẹ cùng các em dời từ Phú Xuân ở Giang Nam đến Thọ Xuân ở Giang Bắc. Xét về vị trí địa lý, nơi này giúp việc liên lạc với cha được thuận tiện hơn.
Danh sĩ trẻ tuổi vùng Thư Thành là Chu Du khi nghe người ta nhắc đến việc ở vùng Thọ Xuân lân cận mới có một vị thiếu niên anh hùng [1] chuyển đến, người này không chỉ phụng dưỡng mẹ vô cùng chí hiếu mà đồng thời còn được các hào kiệt địa phương kính trọng, ngưỡng mộ, trong lòng Chu Du không khỏi sinh lòng mến mộ tài năng.
Chàng quý công tử xuất thân danh môn
Chu Du, tự là Công Cẩn, xuất thân từ một danh gia vọng tộc chốn quan trường ở Thư Thành, Lư Giang. Các đời chú bác tổ phụ của ông đều từng giữ đến chức Tam công trong triều đình nhà Hán. Gia phong của dòng họ luôn trung trinh, chính trực, bác học tao nhã; đồng thời, các thế hệ đi trước đều hết lòng tiến cử nhân tài cho đất nước mà không quản ngại gian khó. Có thể nói, một nhà họ Chu đều là những bậc danh sĩ hiển quý, thế hệ nào cũng sản sinh ra nhân tài.
Sự sa sút của nhà họ Chu bắt đầu từ thời kỳ loạn Đổng Trác. Bấy giờ, kinh thành Lạc Dương đại loạn, người anh em họ của Chu Du là Chu Huy đã vội vã chạy đến kinh thành với ý định đón cha mình là Chu Trung, người đang giữ chức Đại tư nông lúc đó về quê nhà. Không ngờ, hành động này lại khiến Đổng Trác phật ý, hắn bèn phái binh lính đến giết hại Chu Huy. Trong niềm đau thương vô hạn, Chu Trung đành phải ngậm đắng nuốt cay, một mực hộ tống Hán Hiến Đế đến Tây An, nhiều năm sau mới theo hầu Hiến Đế quay về phía Đông trở lại Lạc Dương.
Tuy nhiên, nhà họ Chu ở vùng Giang Hoài vẫn là thế lực vô cùng hùng hậu, xưa nay luôn kết giao với rất nhiều tân khách, mỗi khi ra vào, xe ngựa đi theo hộ tống có đến hàng trăm chiếc.
Tranh vẽ Chu Du trong tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa” bản in thời nhà Thanh. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Sự xuất hiện của Chu Du rất lộng lẫy và tỏa sáng. “Du” mang ý nghĩa là một loại ngọc đẹp, và chàng thiếu niên Chu Du quả thực đúng như cái tên của mình: vóc dáng cao ráo, anh tuấn tiếu sái, phong thái lịch lãm, người đời bấy giờ gọi là “Mỹ Chu Lang”. Không chỉ có vậy, Chu Du còn có tính cách rộng lượng, khoáng đạt, lại vẹn toàn cả văn thao võ lược; ông không chỉ thông lầu kinh thư từ nhỏ mà còn vô cùng tinh thông âm luật, tài hoa tràn đầy, hiện rõ phong thái của một bậc long phượng trong đám người thường, thần thái ngời ngời.
Khả năng cảm thụ và thẩm định âm nhạc của Chu Du cực kỳ cao, sử sách còn đặc biệt ghi lại một tình huống rất thú vị. Đó là khi Chu Du tham gia các buổi yến tiệc, sau khi “rượu qua ba tuần” — tức là đã mời rượu một vòng với tất cả các tân khách cùng bàn tới ba lượt, lúc này rượu đã ngấm, tai đã nóng và trong người đã có chút men say — vậy mà hễ nghe thấy người biểu diễn trên tiệc gảy sai dù chỉ một nốt nhạc, ông vẫn theo bản năng ngoảnh đầu lại nhìn một cái. Chính vì thế, dân gian thời bấy giờ mới lưu truyền câu ca dao rằng: “Khúc hữu ngộ, Chu Lang cố”. Câu này có nghĩa là, nếu người tấu nhạc mà đánh sai nhạc luật thì cũng chẳng thể giấu nổi một Mỹ Chu Lang, dù đang ngà ngà say, ông ấy vẫn sẽ quay lại nhìn một cái như thể muốn bảo: “Ủa! Sao lại đàn sai rồi!”
Kết giao từ thuở tóc trái đào, sinh tử có nhau
Năm ấy, thiếu niên Chu Du đã đặc biệt lặn lội đến Thọ Xuân để tìm gặp Tôn Sách. Hai vị thiếu niên anh hùng vừa gặp mặt mà ngỡ như đã thân quen từ lâu. Hóa ra, Chu Du và Tôn Sách bằng tuổi nhau, Chu Du chỉ sinh sau Tôn Sách đúng một tháng. Ngay trong lần đầu tiên gặp gỡ, cả hai đã trò chuyện vô cùng hòa hợp, tâm đầu ý hợp, kết nên một mối nhân duyên kỳ diệu.
Không lâu sau, ngọn lửa chiến tranh dần lan xuống phía Nam. Chu Du khuyên Tôn Sách nên đưa mẹ dời đến Thư Thành, rồi hào phóng nhường lại một ngôi đại viện của gia đình mình cho Tôn Sách và mẹ đến ở. Ngay tại sảnh đường của đại trạch họ Chu, Chu Du đã chính thức bái lạy Tôn thái phu nhân làm mẹ nuôi. Chu Du cùng Tôn Sách cũng kết nghĩa anh em, thề nguyện họa phúc cùng chia, trở thành đôi bạn sinh tử có tình nghĩa bền chặt như keo sơn [2].
Nhờ có mối quan hệ với Chu Du, Tôn Sách cũng kết giao được với rất nhiều sĩ phu tại địa phương. Trong khoảng thời gian ngắn, người dân khắp vùng Giang Hoài đều mộ danh mà tìm đến kết bạn, giúp hai người quy tụ được một nguồn nhân khí dồi dào phong phú.
Năm Sơ Bình thứ hai (năm 191), Tôn Kiên phụng mệnh kéo quân đi đánh Lưu Biểu ở Kinh Châu thuộc phương Nam. Tuy nhiên, do sơ hở khi chỉ dẫn theo một toán kỵ binh nhẹ di chuyển qua các lối mòn trong rừng núi, ông đã bị quân mai phục của đại tướng Hoàng Tổ (thuộc hạ của Lưu Biểu) bắn chết. Tôn Sách mất đi người cha khi vừa tròn 17 tuổi.
Đại kế vượt sông Nam tiến
Nỗi đau mất cha đã khiến Tôn Sách, một thiếu niên vốn dĩ đã chín chắn trước tuổi, bỗng chốc trưởng thành chỉ sau một đêm. Tôn Sách đau buồn từ biệt người bạn chí cốt Chu Du, rồi đưa di cốt của cha về lại phương Nam để an táng. Ông quyết tâm kế thừa chí hướng bình sinh của cha, lập chí gây dựng nên một sự nghiệp lẫy lừng, đồng thời báo thù rửa nhục cho cha.
Tranh vẽ Tôn Sách trong tác phẩm “Tam quốc Diễn Nghĩa” bản in thời nhà Thanh. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Ông dự định sẽ đi tìm người cậu của mình là Ngô Cảnh, đồng thời đến đầu quân cho vị cấp trên cũ của cha là Viên Thuật. Cậu của Tôn Sách là Ngô Cảnh cũng là thuộc hạ của Viên Thuật, lúc bấy giờ đang giữ chức Thái thú Đan Dương. Trước khi lên đường, Tôn Sách đã đến thăm hỏi Trương Hoành [3], người lúc này đang trong thời gian chịu tang mẹ.
Trương Hoành là ai? Trương Hoành là người quận Quảng Lăng thuộc Dương Châu ở phương Nam. Từ thuở thiếu niên, ông đã vào học ở Thái học, từng đi du học tại kinh đô và bái các bậc đại sư quốc học danh tiếng thời bấy giờ làm thầy, học vấn vì thế vô cùng tinh thâm. Tuy nhiên, ông trước sau đều không nguyện ý ra làm quan trong triều đình, mà lựa chọn lui về phương Nam lánh nạn. Tôn Sách đối với Trương Hoành mười phần tôn kính, thường xuyên đến để thỉnh giáo ông.
Tôn Sách nói với Trương Hoành về chí hướng của mình: “Nay vương triều nhà Hán đã sa sút, thiên hạ loạn lạc rối ren, anh hùng tuấn kiệt các nơi ai nấy đều mưu cầu tư lợi, chẳng một ai có thể phò tá triều đình vượt qua cơn nguy khốn. Tiên quân (cha tôi) cùng Viên thị từng chung sức đánh bại Đổng Trác, bất hạnh thay công lao sự nghiệp chưa thành, cuối cùng lại bị Hoàng Tổ sát hại.”
“Tôi tuy tuổi nhỏ dại chưa tường sự đời, nhưng trong lòng vẫn ôm giữ một chí hướng nhỏ nhoi. Tôi muốn trước tiên đến Dương Châu cầu xin Viên Thuật cho nhận lại số tàn binh cũ của tiên quân, rồi tới Đan Dương trợ giúp người cậu. Sau khi thu gom và tập hợp lại lực lượng binh mã đang tản mạn khắp nơi, tôi sẽ tiến về phía Đông chiếm giữ vùng Ngô Hội, vừa để báo thù rửa hận cho cha, vừa làm viện trợ từ bên ngoài cho triều đình. Tiên sinh thấy kế hoạch này thế nào?”
Ban đầu, Trương Hoành tìm cách từ chối, khéo léo nói rằng bản thân kiến thức nông cạn, lại đang phải chịu tang nên khó lòng giúp đỡ. Thế nhưng Tôn Sách vẫn khẩn khoản nài nỉ: “Tiên sinh danh tiếng vang xa, gần xa đều biết. Chính vì xưa nay luôn ngưỡng mộ tài đức cao dày như núi lớn của tiên sinh, nên hôm nay tôi mới đặc biệt đến đây thỉnh giáo, cớ sao tiên sinh lại chẳng chịu nói thẳng ra? Nếu sau này chí hướng nhỏ nhoi của tôi có thể thành hiện thực, báo được thù sâu giết cha, thì đó đều là nhờ công lao của tiên sinh, và cũng là nguyện vọng chân thành nhất của tôi!” Nói đoạn, Tôn Sách không kìm được lệ tuôn không dứt.
Tấm lòng hiếu thảo và sự chân thành của Tôn Sách đã làm lay động sâu sắc trái tim Trương Hoành. Vì vậy, Trương Hoành bèn nói: “Kế hoạch của công tử rất tốt. Chuyến đi này tới Đan Dương, nếu công tử có thể thu gom và chỉnh đốn lại binh lực ở phương Nam, chiếm được Kinh Châu và Dương Châu, thì việc báo mối thù sâu như biển máu tự khắc sẽ thành. Khi đã nắm giữ được vùng đất dọc bờ sông Trường Giang, tất có thể một phen thi triển uy đức, phò tá nhà Hán, lập nên công lao sự nghiệp sánh ngang với Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công thời Xuân Thu. Nếu công thành danh toại, tôi nhất định sẽ cùng những người bạn có chung chí hướng lặn lội đến phương Nam để dốc sức tương trợ”. Tôn Sách nghe xong thì vô cùng mừng rỡ nói: “Vậy chúng ta một lời đã định.” Nói rồi, ông liền gửi gắm mẹ cùng các em nhỏ lại nhờ Trương Hoành chiếu cố.
Tôn Sách đầu quân cho Viên Thuật
Tôn Sách đến dưới trướng của Viên Thuật, lúc này người cậu là Ngô Cảnh đã bị phái đi dẹp loạn ở Lịch Dương. Dù mới chân ướt chân ráo đến nơi, Tôn Sách đã nhanh chóng bộc lộ tài năng xuất chúng của mình, khiến Viên Thuật vô cùng tán thưởng và phải thốt lên kinh ngạc rằng: “Nếu Viên Thuật ta mà có được đứa con trai như Tôn lang thì dù có chết cũng chẳng còn gì hối tiếc!”
Tranh vẽ Viên Thuật trích từ tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa” thời nhà Thanh. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Tuy nhiên, Viên Thuật lại là kẻ khí lượng hẹp hòi, hai lần hứa hẹn giao trọng trách cho Tôn Sách nhưng đều không thực hiện. Thế nhưng Tôn Sách không hề nản lòng, ông ra sức thuyết phục Viên Thuật, xin được lên đường tới Lịch Dương trợ giúp người cậu của mình tiến đánh Lưu Do — kẻ đã chiếm giữ Dương Châu suốt nhiều năm qua. Lần này, Viên Thuật cuối cùng đã đồng ý, đồng thời trả lại cho Tôn Sách hơn một ngàn binh sĩ thuộc bộ hạ cũ của Tôn Kiên năm xưa để ông lên đường hành quân.
Song hùng sánh vai, càn quét Giang Đông
Năm Hưng Bình thứ hai (năm 195), Tôn Sách lúc bấy giờ 20 tuổi, dẫn theo hơn một ngàn binh sĩ, mấy chục thớt ngựa cùng vài trăm tùy tùng xuất phát. Trên đường hành quân, Tôn Sách vừa đi vừa chiêu mộ thêm binh mã, đến khi tới Lịch Dương, trong tay ông đã sở hữu lực lượng lên tới năm, sáu ngàn người.
Tuy nhiên, cục diện chiến tranh tại Lịch Dương suốt nhiều năm qua vốn vô cùng phức tạp. Sau nhiều hồi suy tính, Tôn Sách đã nghĩ ngay đến người bạn thân thiết như anh em ruột thịt của mình — Chu Du.
Người chú của Chu Du là Chu Thượng bấy giờ đang giữ chức Thái thú Đan Dương, đất Đan Dương lại ở ngay gần đó, và đúng lúc này Chu Du cũng đang có mặt tại Đan Dương để thăm chú mình. Vì vậy, Tôn Sách đã viết một bức thư gửi cho Chu Du đề nghị viện trợ. Nhận được thư, Chu Du ngay lập tức dẫn theo năm trăm binh sĩ, trên thuyền chất đầy lương thực và binh khí, ngày đêm hành quân không nghỉ tới Lịch Dương trợ chiến.
Tôn Sách thấy Chu Du đến thì vô cùng cảm động. Đã vài năm không gặp, ông nghẹn ngào rơi lệ, nắm chặt tay Chu Du và nói: “Đệ đến đây rồi, mọi chuyện chắc chắn sẽ không thành vấn đề nữa!” [4]
Tôn Sách và Chu Du kề vai sát cánh chiến đấu, vô cùng tâm đầu ý hợp. Hai người hợp lực, đi đến đâu đánh bại quân thù đến đó, với tốc độ nhanh như vũ bão, chưa đầy một năm đã đánh tan các thế lực quân phiệt hùng mạnh như Lưu Do, Trạch Dung, Tiết Lễ, thần tốc gióng lên tiếng vang chiến thắng đầu tiên ở Giang Đông.
Trong suốt quá trình chinh phạt Giang Đông, cả hai đều quản lý quân đội cực kỳ nghiêm minh, đại quân đi đến đâu cũng tuyệt đối không cướp bóc hay xâm phạm tới bách tính. Đồng thời, Tôn Sách còn ra tuyên cáo: “Bất luận là ai, hễ đến đầu hàng đều sẽ tuyệt đối không bị hỏi han thẩm vấn. Một người tham gia quân ngũ thì cả nhà sẽ được miễn trừ sưu dịch; ai không muốn nhập ngũ cũng sẽ không bị ép buộc”. Cáo thị vừa ban ra, người dân từ khắp bốn phương tám hướng liền lũ lượt kéo đến tình nguyện gia nhập quân đội. Chỉ trong vòng mười ngày, họ đã chiêu mộ được hơn hai vạn binh sĩ cùng hơn một ngàn thớt ngựa, thanh thế nhờ đó tăng lên mạnh mẽ, uy danh chấn động cả vùng Giang Đông.
Người chú của Chu Du là Chu Thượng vốn là thuộc hạ dưới trướng Viên Thuật. Việc Chu Du lưu lại vùng Giang Đông để trợ giúp Tôn Sách xét cho cùng vẫn là điều khó ăn khó nói với Viên Thuật. Vì vậy, Tôn Sách đã bảo với Chu Du rằng: “Ta dùng bấy nhiêu binh sĩ này để tiếp tục đánh lấy Ngô quận là đã đủ rồi, đệ hãy quay về trấn thủ Đan Dương trước đi!” Chu Du bèn rút quân trở về Đan Dương. Chẳng ngờ ít lâu sau, Viên Thuật lại phái em trai mình là Viên Dận đến thay thế chức Đan Dương Thái thú của Chu Thượng. Chu Du cùng người chú của mình đành phải quay trở về Thọ Xuân.
Sang năm sau, tức năm Kiến An thứ nhất (năm 196), tình thế đã có những biến chuyển vô cùng to lớn. Ở phương Bắc, Tào Tháo đã đón được Hán Hiến Đế về phò tá; còn ở phương Nam, Tôn Sách cũng thuận lợi đánh hạ được vùng Cối Kê, tự mình kiêm nhiệm chức Thái thú, trở thành một thế lực mới nổi đang trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ ở vùng Đông Nam.
Bậc hiền đức Tôn thái phu nhân
Sự lớn mạnh và trưởng thành thần tốc của gia tộc Tôn Sách có dấu ấn đóng góp rất lớn từ người mẹ — Tôn thái phu nhân, chỗ dựa tinh thần vững chắc ở phía sau. Tôn thái phu nhân là người hiểu sâu biết rộng, am tường lễ nghĩa. Dù phu quân Tôn Kiên quanh năm suốt tháng phải đi chinh chiến bên ngoài cho đến tận lúc da ngựa bọc thây nơi sa trường, bà vẫn luôn làm tròn bổn phận của một người mẹ, giáo dục các con vô cùng nghiêm chỉnh và có phương pháp, quả thực là một người phụ nữ vô cùng trí tuệ. Anh em nhà họ Tôn đối với mẹ kính trọng hết mực, những lời mẹ dạy bảo đều khắc cốt ghi tâm, tuyệt đối không dám làm trái ý.
Khi Tôn Sách mang quân tiến đánh huyện Ô Trình, lúc bấy giờ các thế lực của Trâu Tha, Tiền Đồng và Vương Thịnh đang tập hợp lực lượng riêng, mỗi người nắm giữ khoảng một vạn binh mã. Tôn Sách đã lần lượt đánh bại tất cả bọn họ và bắt giam vào ngục tối. Tôn thái phu nhân nghe nói đến chuyện này liền bảo với Tôn Sách rằng: “Vương Thịnh vốn là chỗ bằng hữu cũ với cha con, năm xưa chính cha con còn từng đích thân giới thiệu ta cho ông ấy quen mặt ở ngay giữa sảnh đường. Nay vây cánh đồng đảng của ông ấy đều đã đền tội chết cả rồi, chỉ còn sót lại một mình ông lão ấy thì có gì đáng để phải lo ngại nữa đâu?” Tôn Sách nghe xong lời mẹ dạy liền lập tức hạ lệnh phóng thích cho Vương Thịnh.
Một lần nọ, mưu sĩ dưới trướng Tôn Sách là Ngụy Đằng do làm trái ý ông nên đã bị trách phạt nghiêm khắc, Tôn Sách thậm chí còn nảy ra ý định muốn giết người này. Các quan viên, triều thần bấy giờ đều vô cùng lo lắng và hoảng sợ, nhưng mãi vẫn không nghĩ ra được cách nào để giải cứu Ngụy Đằng. Tôn thái phu nhân biết chuyện, liền đến bên một miệng giếng lớn, đứng tựa vào thành giếng và bảo với Tôn Sách rằng: “Con mới đến bình định vùng Giang Nam chưa được bao lâu, đáng lẽ phải biết chiêu hiền đãi sĩ, bao dung cho những lỗi lầm của người khác và biểu dương công lao của họ. Luận về công, Ngụy Đằng chẳng hề có tội tình gì, nếu con một mực giết chết ông ta thì sau này người đời thảy đều sẽ phản bội con. Thay vì tương lai phải trơ mắt đứng nhìn con rơi vào cảnh chúng bạn xa lánh, thân cô thế cô, thà rằng bây giờ ta nhảy xuống giếng này tự tận trước cho xong!” Tôn Sách nghe vậy kinh hãi khôn xiết, vội vàng ra lệnh phóng thích cho Ngụy Đằng [5].
Ngô phu nhân sau khi biết chuyện liền đi đến bên thành giếng, rồi phái thị nữ tới báo với Tôn Sách rằng mẹ đang muốn nhảy giếng tự tận. Tôn Sách nghe xong hồn bay phách lạc, vội vã chạy đến trấn an bà, gặng hỏi xem có chuyện gì mà mẹ lại nghĩ quẩn đến thế. (Ảnh: Chí Thanh/The Epoch Times)
Năm Kiến An thứ hai (năm 197), Viên Thuật chính thức xưng Đế ở Thọ Xuân. Tôn Sách bấy giờ đã viết một bức thư nghiêm khắc khiển trách Viên Thuật tội cướt đoạt chính quyền, đồng thời tuyên bố tuyệt giao, chính thức ly khai khỏi tập đoàn quân sự của Viên Thuật.
(Còn tiếp)
Chú thích:
[1] Tam quốc chí — Tôn Sách truyện: (Tôn Sách) tướng mạo khôi ngô, thích cười nói, tính tình khoáng đạt, biết lắng nghe ý kiến và khéo léo trong việc dùng người. Chính vì vậy, sĩ phu và bách tính ai nhìn thấy ông cũng đều hết lòng, tự nguyện liều chết phò tá.
[2] Giang biểu truyện viết rằng: (Tôn) Kiên được Chu Tuấn dâng biểu tiến cử làm Tá quân, bèn để gia quyến lưu lại Thọ Xuân. Khi ấy Tôn Sách mới hơn mười tuổi, nhưng đã kết giao với nhiều người có danh tiếng, tiếng tăm vang xa. Có người tên là Chu Du, bằng tuổi với Tôn Sách, cũng là bậc anh tài kiệt xuất, chín chắn từ sớm. Nghe danh tiếng của Tôn Sách, Chu Du đã từ Thư Thành lặn lội đến tìm gặp. Hai người vừa gặp đã kết thành tri kỷ, tình nghĩa bền chặt như keo sơn (nghĩa đồng đoạn kim), Chu Du khuyên Tôn Sách dời nhà đến Thư Thành, Tôn Sách liền nghe theo.
[3] Tam quốc chí — Tôn Sách truyện dẫn từ sách Ngô lịch: Ban đầu khi Tôn Sách còn ở Giang Đô, Trương Hoành đang chịu tang mẹ. Sách nhiều lần đến bái phỏng Hoành để thỉnh giáo về thời cuộc, nói rằng: “Nay vận nước nhà Hán đã suy vi, thiên hạ loạn lạc rối ren, anh hùng tuấn kiệt khắp nơi ai nấy đều vây cánh mưu cầu tư lợi, chẳng có một ai có thể phò nguy cứu loạn. Tiên quân (cha tôi) cùng Viên thị từng chung sức đánh bại Đổng Trác, công nghiệp chưa thành, cuối cùng lại bị Hoàng Tổ sát hại. Sách tôi tuy ngu muội, tuổi đời còn nhỏ dại, nhưng cũng trộm ôm giữ chí hướng nhỏ nhoi. Tôi muốn đến cầu xin Viên Dương Châu (Viên Thuật) cho nhận lại số tàn binh cũ của tiên quân, rồi tới Đan Dương hội hợp cùng người cậu. Sau khi thu gom và tập hợp lại lực lượng binh mã đang lưu tán, tôi sẽ tiến về phía Đông chiếm giữ vùng Ngô Hội, vừa để báo thù tuyết hận, vừa làm phiên dậu (ngoại viện) che chở cho triều đình. Tiên sinh thấy kế hoạch này thế nào?” Hoành đáp rằng: “Bản thân tôi xưa nay vốn nông cạn lại bất tài, nay lại đang trong thời gian mặc áo tang chịu tội, chẳng có năng lực gì để phò trợ cho mưu lược lớn lao của công tử”. Sách nói: “Tiên sinh danh tiếng vang xa, gần xa đều hướng lòng quy phục. Kế hoạch đại sự ngày hôm nay đều trông cậy vào sự quyết đoán của tiên sinh, cớ sao tiên sinh lại chẳng chịu hạ chút tâm sức khai thị chỉ giáo cho, để đáp lại lòng ngưỡng vọng cao như núi lớn của tôi? Nếu chí hướng nhỏ nhoi này được rộng mở, huyết hải thâm thù được báo, thì đó hoàn toàn là nhờ vào công lao dốc sức của tiên sinh, và cũng là nguyện vọng từ đáy lòng của Sách tôi vậy.” Nói đoạn, Tôn Sách khóc lóc nước mắt ròng rã, nhưng sắc mặt vẫn không hề thay đổi. Hoành thấy Tôn Sách lòng trung nghĩa, tráng chí bộc phát từ bên trong, lời lẽ lại vô cùng khảng khái, cảm động trước chí hướng và lời nói ấy nên mới đáp rằng: “Xưa kia nhà Chu suy vi, nước Tề, nước Tấn cùng trỗi dậy; vương thất nhờ đó được bình định, chư hầu lại đến triều cống. Nay công tử nối bước vết xe của tiên hầu (Tôn Kiên), lại sẵn có danh tiếng kiêu hùng dũng mãnh. Nếu công tử đến Đan Dương, thu gom binh mã ở Ngô Hội, thì hai châu Kinh, Dương có thể thống nhất, có thể báo trả cừu địch. Khi đã nắm giữ được vùng Trường Giang, dấy mạnh uy đức, trừ khử lũ gian uế, phò tá nhà Hán, thì công nghiệp ấy sánh ngang với Hoàn Công, Văn Công, há lại chỉ dừng lại ở việc làm một phiên dậu che chở bên ngoài thôi sao? Nay thiên hạ loạn lạc lắm tai ương, nếu công tử công thành danh toại, tôi nhất định sẽ cùng những người bạn có chung chí hướng kéo quân sang sông Nam tiến để tương trợ”. Sách nói: “Lời của tôi và tiên sinh đã như hai mảnh hợp khít vào nhau, cùng có duyên phận gắn kết bền vững lâu dài. Nay tôi lên đường ngay, xin ủy thác mẹ già và các em thơ lại cho tiên sinh chăm sóc, Sách tôi sẽ không còn nỗi lo phải ngoảnh đầu ngoái nhìn lại phía sau nữa”.
[4] Thái bình ngự lãm: Sách Ngô lục của Trương Bột viết rằng: Trường Sa Hoàn Vương (Tôn Sách) khi ở Lịch Dương đã sai người đưa thư gọi Chu Du đến. Du lập tức thống lĩnh năm trăm binh sĩ, cùng thuyền bè chất đầy lương thực, khí giới và gậy gộc, ngày đêm hành quân thần tốc tới hội quân. Vương mừng lắm, nắm chặt tay Du và nói: “Khanh đã đến rồi, mọi việc tất thành công!”
[5] Tam quốc chí — Ngô thư — Phi tần truyện: Sách Cối Kê điển lục viết rằng: Công tào Ngụy Đằng của quận Cối Kê, do làm trái ý Tôn Sách nên bị trách phạt và sắp sửa bị đem đi giết. Sĩ đại phu bấy giờ đều vô cùng lo lắng, sợ hãi, nhưng mãi không nghĩ ra được kế sách gì để cứu. Phu nhân (Ngô phu nhân) liền đến bên một miệng giếng lớn, đứng tựa vào đó rồi bảo với Tôn Sách rằng: “Con mới gây dựng cơ nghiệp ở vùng Giang Nam, đại sự còn chưa hoàn thành, đây chính là lúc phải chiêu hiền đãi sĩ, bao dung lỗi lầm và ghi nhận công lao của họ. Ngụy công tào là người hết lòng vì việc công, giữ đúng quy củ phép tắc, nay con giết ông ta thì ngày mai người người đều sẽ phản bội con. Ta không đành lòng nhìn thấy tai họa ập xuống gia tộc, thà rằng tự mình nhảy xuống giếng này trước cho xong.” Tôn Sách nghe vậy kinh hãi khôn xiết, lập tức hạ lệnh phóng thích cho Ngụy Đằng. Trí tuệ, mưu lược và sự ứng biến linh hoạt của phu nhân đều xuất sắc như vậy.
Dịch từ:




