Trang chủTiên triChuyện tu luyệnNghệ thuậtDiễn đàn  
  English中文한국어Pусский  
Tìm kiếm
Chuyên mục
Nghệ thuật Thần Vận
Ca Vũ Nhạc - Truyền Thống - Ngoạn Mục

Liên kết

Học thuyết Darwin – Một chủ đề cấm

Không phải là các nghiên cứu khoa học về học thuyết Darwin bị cấm mà đó là cuộc tranh luận công khai về kết quả nhận được của các nghiên cứu đó. Hầu hết những người có học thức và lý trí đều không thể tin rằng việc tranh luận học thuyết Darwin trên các báo chí và kênh truyền hình chính thức bị cấm.Tự bản thân tôi còn cảm thấy thấy khó tin.

Bài báo dưới đây đầu tiên được ủy quyền và sau đó là bị kiểm duyệt bởi tờ báo Times Higher Education Supplement (THES) [một tờ báo đặt trụ sở tại thủ đô London chuyên đưa tin các vấn đề liên quan đến giáo dục bậc đại học]

(Sau sự can thiệp của tiến sĩ Richard Dawkins, nhiều sự kiện đã khiến bài báo bị kiểm duyệt, chi tiết được mô tả trên tạp chí Scientific Censorship)

Độc giả của THES (đa phần là các giảng viên đại học của Anh Quốc) đã bị ngăn không cho biết những nội dung của bài báo. Ngày nay các bạn có những thực tế trước mặt, và có thể tự mình quyết định.

Học thuyết tân Darwin*: Đã đến lúc phải xem xét lại

(*Chú thích của người dịch: Chủ nghĩa tân Darwin (neo-darwinism) là thuật ngữ dùng để mô tả ngành tổng hợp tiến hóa hiện đại của thuyết tiến hóa Darwin theo cơ chế chọn lọc tự nhiên kết hợp với di truyền học Mendel)

Những thành quả chói lọi do khoa học và công nghệ mang lại trong thế kỷ 19 thông qua việc ứng dụng những phân tích lý tính đã dẫn con người nghĩ đến việc ứng dụng [phương pháp] lý tính trong những lĩnh vực khác.

Theo sau những thành công rực rỡ của phương pháp lý tính cũng như các phương pháp trong vật lý và hóa học – đặc biệt trong y học – một cách tự nhiên với khoa học, người ta đã tìm cách ứng dụng các công cụ phân tích tương tự cho những vấn đề hóc búa và phức tạp như: xã hội nhân loại và trạng thái kinh tế; tâm lý học nhân thể; và thậm chí cả nguồn gốc và sự phát triển của sự sống. Kết quả là sự xuất hiện những triết học cơ giới của thế kỷ trước: Chủ nghĩa Marx, học thuyết Freud và học thuyết Darwin.

Tính đơn giản và chắc chắn của các hệ thống này phản ánh một đời sống được tổ chức một cách thông minh, ngăn nắp của xã hội kiểu Victorian với những tiêu chuẩn độc đoán và thể chế định kiến. Hiện nay, sau một thế kỷ, cả ba hệ thống đã đi hướng đi của chúng, đã được kiểm nghiệm bởi lịch sử, và cuối cùng nhận ra đó là những công cụ giải thích không phù hợp.

Không giống như Marx và Freud, Darwin vẫn còn được coi trọng trong cả hai khía cạnh, một là như một nhà tư duy hết sức độc đáo, và đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu cẩn thận, kỹ lưỡng. (Các nghiên cứu của ông về các hóa thạch động vật chân đốt đã lưu lại một quyển sách các dẫn chứng cho các nhà cổ sinh vật học). Nhưng trong những năm đầu của thế kỷ này, lý thuyết mang tên ông đã bị chuyển thành học thuyết cơ giới và giản hóa luận tân Darwin: học thuyết mà các dạng sống là những cái máy, với mục đích chỉ là nhân bản gen – một vấn đề của hóa học và thống kê; hoặc theo lời giáo sư Jacques, Monnod, giám đốc viện Pasteur, một vấn đề duy nhất của “ngẫu nhiên và cần thiết”.

Và trong khi những bằng chứng về sự tiến hóa bản thân nó vẫn còn sức thuyết phục – đặc biệt là những đồng hình được phát hiện thấy trong ngành giải phẫu so sánh và ngành sinh học phân tử của nhiều loài khác nhau – nhiều những bằng chứng thực nghiệm, được cho là đáng tin, ủng hộ cho cơ chế đột biến di truyền kết hợp với chọn lọc tự nhiên của học thuyết tân Darwin, đã tan chảy như tuyết vào buối sáng mùa xuân, nhờ vào việc quan sát tốt hơn và phân tích cẩn thận hơn.

Hệ thống tư duy của chủ nghĩa Marx, Freud và tân Darwin cuối cùng đã hoàn toàn sụp đổ với cùng một nguyên nhân: Họ đã cố tìm cách sử dụng giản hóa luận theo cơ giới để giải thích và tiên đoán các hệ thống, những thứ mà hiện nay chúng ta biết là có những liên hệ phức tạp, và không thể giải thích theo kiểu cộng gộp các phần riêng lại với nhau.

Trong trường hợp học thuyết tân Darwin, không phải là những bí ẩn của tư duy hay kinh tế được giải thích, mà là nguồn gốc của những [sinh vật] đơn bào trong lòng đại dương nguyên sinh, và sự phát triển của nó thành các giới thực vật và động vật ngày nay theo một quá trình hoàn toàn mơ hồ của đột biến gen cùng với sự chọn lọc tự nhiên.

Trong năm thập kỷ đầu của thế kỷ này, trong thời kỳ hoàng kim của các học thuyết – các nhà động vật học, sinh cổ vật học và các nhà giải phẫu so sánh đã tập hợp những mẫu trưng bày ấn tượng, rất nhiều thế hệ học sinh đã tham quan ở các bảo tàng lịch sử tự nhiên trên toàn thế giới: sự tiến hóa của họ ngựa; các hóa thạch minh họa sự chuyển tiếp từ cá đến loài lưỡng cư, đến loài bò sát, rồi đến động vật có vú; và những khám phá đáng ngạc nhiên các loài đã tuyệt chủng như “Archaeopteryx’, rõ ràng là nửa bò sát, nửa chim.

Trong những thập kỷ kế tiếp, những đợt trưng bày này đầu tiên nảy sinh tranh cãi, sau đó bị hạ xuống, và cuối cùng bị đẩy vào tầng hầm tối của bảo tàng, vì các nghiên cứu tiếp sau đó đã chỉ ra chúng có những thiếu sót và sai lầm.

Bất cứ ai học ở một quốc gia Tây phương trong 4 thập kỷ gần đây sẽ nhớ lại về một sơ đồ tiến hóa của ngựa từ ‘Eohippus’, một loài chó nhỏ giống như sinh vật trong kỷ Thủy Tân (Eocene) khoảng 50 triệu năm trước đây, đến loài ‘Mesohippus’, một loài động vật cỡ con cừu khoảng 30 triêu năm trước đây, cuối cùng đến loài ‘Dinohippus’, có kích thước của một con ngựa nhỏ Shetland.

Vào năm 1950, George Simpson – một giáo sư cổ sinh vật học của trường Harvard – đã vẽ biểu đồ này. Đi kèm với nó là một cuốn sách chuẩn của ông – “Loài ngựa” – đã tóm gọn tất cả các nghiên cứu được thực hiện bởi Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ vào nửa thế kỷ trước.

Simpson tin tưởng một cách chắc chắn rằng những bằng chứng của ông là không cần bàn cãi vì ông viết: “Lịch sử của loài ngựa vẫn còn là một trong những chứng cứ rõ ràng và có sức thuyết phục nhất rằng các sinh vật thực sự tiến hóa… Ngày nay thực sự không có một nơi nào tiếp tục việc thu thập và nghiên cứu các hóa thạch đơn giản chỉ để xác định xem sự tiến hóa có phải là sự thực hay không. Câu trả lời cho vấn đề này là khẳng định chắc chắn.” [2]

Tuy nhiên, ngay sau khi khẳng định điều này, Simpson thừa nhận rằng trong biểu đồ mà ông vẽ chứa những thiếu sót lớn mà ông đã không đưa vào: một thiếu sót là trước loài ‘Eohippus’ và không biết tổ tiên của nó, là một ví dụ, một thiếu sót nữa là sau loài ‘Eohippus’ và trước hậu duệ của nó ‘Mesohippus’ [3]. Một cách khoa học thì nó sẽ là gì đây, thứ mà liên kết những loài riêng rẽ trên một biểu đồ nổi tiếng mà không có những hóa thạch còn lại? Và làm sao những dẫn chứng không kết nối liên tục như vậy có thể minh chứng cho sự đột biến gen hay sự chọn lọc tự nhiên.

Mặc dù hiện nay, bản thân những bộ xương đã bị cho vào tầng hầm, nhưng biểu đồ nổi tiếng trên cùng với sự liên tục chưa được chứng minh của nó, vẫn xuất hiện ở các vật trưng bày của bảo tàng, những quyển sổ tay, sách in, từ điển bách khoa toàn thư và các bài thuyết trình.

Loài  “Archaeopteryx” đặc biệt, cũng dường như ngay lập tức sinh ra ý tưởng của thuyết tân Darwin về sự tiến hóa của loài chim từ các loài bò sát nhỏ (ứng viên được những người theo học thuyết tân Darwin ủng hộ nhiều nhất là một con khủng long nhỏ, nhanh nhẹn có tên là Coelosaur, và đây là lời giải thích được đưa ra bởi hầu hết các sách in và bảo tàng). Trên thực tế, nguồn gốc như vậy là không thể, bởi vì loài coelosaurs, cũng giống như các loài khủng long khác không có xương cổ, trong khi đó loài “Archaeopteryx’, giống như tất cả các loài chim, có xương cổ chuyển hóa để hỗ trợ các cơ ngực. [4] Và một lần nữa, làm sao các hóa thạch riêng rẽ, những hóa thạch đáng chú ý, có thể cung cấp dẫn chứng về đột biến có lợi hay sự chọn lọc tự nhiên?

Những người theo học thuyết tân Darwin đã nhanh chóng tuyên bố rằng những khám phá hiện đại của sinh học phân tử ủng hộ lý thuyết của họ. Chẳng hạn, họ nói rằng nếu phân tích ADN các bản đồ gen di truyền của thực vật và động vật thì sẽ thấy chúng liên hệ với nhau gần hay xa. Nghiên cứu trình tự sắp xếp ADN cho phép lập gia phả chính xác của tất cả các sinh vật sống và thể hiện cách chúng liên hệ với nhau bởi một tổ tiên chung.

Đây là một tuyên bố rất quan trọng và tập trung vào học thuyết. Nếu đúng, thì có nghĩa là các động vật mà những người theo học thuyết tân Darwin nói rằng có liên hệ gần gũi với nhau, chẳng hạn như hai loài bò sát, thì sẽ có ADN giống nhau nhiều hơn so với những loài động vật mà ít liên hệ với nhau, chẳng hạn như loài bò sát và loài chim.

Mười lăm năm trước, các nhà sinh vật học phân tử làm việc dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Morris Goodman tại Đại học Michigan đã quyết định kiểm tra giả thuyết này. Họ đã lấy ADN alpha-Hemoglobin của hai loài bò sát – rắn và cá sấu – hai loài mà theo những người theo học thuyết tân Darwin nói là có liên hệ gần gũi, và ADN hemoglobin của loài chim, trong trường hợp này là của một chú gà trong trại chăn nuôi.

Họ thấy rằng hai loài động vật có trình tự ADN ít giống nhau là hai loài bò sát rắn và cá sấu. Chúng chỉ có khoảng 5% trình tự ADN chung nhau, tương đương với 1/20 ADN hemoglobin của chúng. Hai loài có ADN gần nhau nhất là cá sấu và gà, cỡ khoảng 17% trình tự ADN giống nhau – gần 1/5. Thực sự những điểm giống nhau của ADN là ngược lại với những dự báo của những người theo học thuyết tân Darwin.[5]

Thậm chí có một thực tế là sự khác biệt lớn về mã hóa gen lại có thể làm cho các loài động vật nhìn bề ngoài rất giống nhau và có những biểu hiện hành vi giống nhau. Trong khi đó, các sinh vật trông bề ngoài và hành vi hoàn toàn khác nhau lại có nhiều điểm chung về mặt di truyền. Ví dụ có hơn 3.000 loài ếch, tất cả chúng bề ngoài nhìn đều giống nhau. Nhưng sự khác nhau về ADN giữa chúng còn lớn hơn giữa loài dơi và loài cá voi xanh.

Hơn nữa, nếu ý tưởng của học thuyết tân Darwin là sự thực, thì có thể kỳ vọng một điểm là những sinh vật đơn giản có ADN đơn giản, còn các sinh vật phức tạp có ADN phức tạp.

Trong một vài trường hợp, điều này đúng. Loài giun tròn đơn giản là một đối tượng hay dùng trong các nghiên cứu thí nghiệm vì ADN của nó chỉ chứa khoảng 100.000 đơn vị nucleotide. Ngược lại ở mức độ phức tạp, con người có 23 cặp nhiễm sắc thể, và chứa khoảng 3 tỉ đơn vị nucleotide.

Nhưng thật không may, sự cải tiến nhiều hứa hẹn này của học thuyết lại mâu thuẫn với nhiều ví dụ. Trong khi ADN của con người chứa trong 23 cặp nhiễm sắc thể, thì loài cá vàng nhỏ bé lại có nhiều hơn gấp hai lần, tới 47 cặp. Thậm chí, con ốc vườn – chỉ một chút chất nhờn trong vỏ – có 27 cặp nhiễm sắc thể. Một vài loài hoa hồng có 56 cặp nhiễm sắc thể.

Vì vậy có một thực tế dễ hiểu là việc phân tích ADN không cho phép khẳng định học thuyết tân Darwin. Trong phòng thí nghiệm, những phân tích ADN đã bóp méo học thuyết tân Darwin.

Thậm chí tác hại lớn hơn đối với học thuyết này là những khám phá phần trung tâm nhất đó của học thuyết tân Darwin, các khái niệm nguyên gốc của chọn lọc tự nhiên, hay quá trình chọn lọc tự nhiên, là vô cùng sai lầm.

Vấn đề ở chỗ : làm thế nào các nhà sinh học (hoặc bất cứ ai khác) nói được rằng những đặc điểm nào cấu thành động vật hay thực vật thích nghi sinh tồn. Làm sao mà nói được rằng loài động vật hay thực vật nào là thích nghi.

Câu trả lời là: cách duy nhất để xác định sự thích nghi là bằng các phương tiện của hợp lý hóa hậu nghiệm, nghĩa là loài thích nghi là những loài có thể sinh tồn được. Trong khi cách duy nhất để biểu thị đặc điểm khác thường những loài sinh tồn được là thích nghi. Như vậy đề xuất trung tâm của lý lẽ học thuyết tân Darwin hóa ra là suy luận lặp đi lặp lại vô tiền khoáng hậu.

Giáo sư sinh học tại đại học Edinburgh, C.H. Waddington, đã viết ‘Sự chọn lọc tự nhiên, đầu tiên được xem xét như thể nó là một giả thuyết, cần có những xác nhận bằng thực nghiệm hoặc quan sát, hóa ra khi xem xét kỹ hơn thì nó là một suy luận lặp lại, một tuyên bố của một mối liên hệ không được thừa nhận trước đây. Nó khẳng định rằng những cá thể thích nghi nhất trong quần thể (được định nghĩa là những cá thể tách khỏi hầu hết các cá thể còn lại) sẽ hầu như tách biệt con cái. Sau khi tuyên bố được đưa ra, tính đúng đắn của nó là không thể chối cãi. [6]

George Simpson, giáo sư cổ sinh vật học tại đại học Harvard, đã tìm cách khôi phục lại nội dung đối với các ý tưởng của chọn lọc tự nhiên khi nói; ‘Nếu cha mẹ có gen tóc đỏ, thì trung bình, một tỉ lệ lớn các trẻ em có tóc màu hung hoặc đen, như vậy sự tiến hóa sẽ tiến triển theo hướng tóc màu đỏ. Nếu người có gen thuận tay trái có nhiều con, sự tiến hóa sẽ theo hướng thuận tay trái. Những đặc tính bản thân nó không trực tiếp có ý nghĩa gì cả. Tất cả ý nghĩa là ai lưu lại nhiều hậu duệ qua các thế hệ. Sự lựa chọn tự nhiên sẽ ủng hộ sự thích nghi chỉ nếu định nghĩa sự thích nghi là lưu lại nhiều hậu duệ hơn. Trên thực tế, các nhà di truyền học định nghĩa nó theo cách đó, điều này có thể làm cho những người khác khó hiểu. Đối với một nhà di truyền, sự thích nghi chẳng có gì để làm với sức khỏe, sức mạnh, vẻ ngoài, hay bất cứ thứ gì khác nhưng nó hiệu quả trong chăn nuôi. [7]

Để ý cụm từ:” Những đặc tính bản thân nó không trực tiếp có ý nghĩa gì cả.” Cụm từ vô hại này lại phá hoại nghiêm trọng khái niệm then chốt của Darwin: Các đặc tính đặc biệt cơ thể của mỗi loài vật làm cho nó có thể thích nghi để tồn tại: cái cổ dài của loài hươu cao cổ, đôi mắt tinh của loài chim ưng, hay tốc độ chạy nhanh tới 60 dặm 1 giờ của loài báo gêpa.

Việc tái định dạng lại của Simpson đồng nghĩa với việc phải vứt bỏ hết những điều trên: không phải các đặc tính có ý nghĩa trực tiếp mà là khả năng của loài động vật để tự duy trì nòi giống. Đây không phải là cuộc chạy đua về tốc độ, sau tất cả nó chỉ là sinh sản. Vậy làm sao mà học thuyết tân Darwin có thể giải thích được sự đa dạng phong phú của các đặc tính?

Không chỉ những ý tưởng của những người theo học thuyết tân Darwin bị bóp méo bởi các nghiên cứu thực nghiệm, mà những điều khúc mắc và những kết quả khác thường đã được đưa ra ánh sáng vào những thập kỷ gần đây, thừa nhận rằng sự tiến hóa không mù mờ, mà hơn thế nó theo một vài con đường vô định. Những thí nghiệm của Cairns ở Đại học Harvard và Hall ở Đại học Rochester cho thấy rằng các vi sinh vật có thể đột biến theo cách có lợi.

Các thí nghiệm với cây thuốc lá và cây lanh đã chứng minh sự chuyển đổi gen thông qua ảnh hưởng của sự thụ tinh đơn [9]. Các thí nghiệm với các loài hải tiêu và loài kỳ nhông từ những năm 1920 đã chứng minh sự kế thừa của các đặc tính không di truyền [10]. Hơn nữa, như ngài Fred Hoyle đã chỉ ra, hóa thạch vi sinh vật đã được tìm thấy ở các thiên thạch, chỉ ra rằng sự sống là từ vũ trụ, nó không phải là một sự tình cờ may mắn xảy ra trong ‘bát súp nguyên thủy’. Quan điểm này cũng được chia sẻ bởi ngài Francis Crick, người đồng khám phá ra chức năng của ADN [11]

Dưới ánh sáng của những khám phá kiểu này, tri thức nhận được từ học thuyết tân Darwin không còn quá quan trọng nữa. Một thế hệ mới của các nhà sinh học đang chinh phục lý thuyết dưới ánh sáng lạnh của các điều tra thực nghiệm và tìm thấy những điều không phù hợp. Các nhà khoa học như Tiến sĩ Rupert Sheldrake, Tiến sĩ Brian Goodwin, giáo sư sinh học tại Đại học Mở và Tiến sĩ Peter Saunders, giáo sư toán học tại trường Cao Đẳng Hoàng Gia Luân Đôn.

Không ngạc nhiên, công việc của thế hệ mới này là dị biệt với cái cũ. Khi cuốn sách của Rupert Sheldrake  “Một khoa học mới của sự sống” cùng với lý thuyết hình thái cộng hưởng mang tính cách mạng của cuốn sách được xuất bản vào năm 1981, biên tập viên của tạp chí “Tự Nhiên”, John Maddox, đã cho chạy một lời kêu gọi của biên tập quyển sách – một dấu hiệu chắc chắn rằng Sheldrake đã phát hiện ra một cái gì đó quan trọng, nhiều người nghĩ vậy [12][13]

Tâm trạng hiện nay trong sinh học đã được Sheldrake tóm tắt lại như sau,’Thà làm việc ở nước Nga dưới thời Brehznev’. Nhiều nhà sinh vật học có một đức tin ở công việc, đức tin theo nghi thức, và những đức tin thực sự  khác của họ, những điều mà họ có thể nói một cách cởi mở với bạn bè. Họ có thể đối xử với các vật thể sống như một cái máy trong phòng thí nghiệm nhưng khi họ về nhà, họ không đối xử với gia đình của mình như một cái máy vô hồn.’

Một khía cạnh kỳ lạ của khoa học trong thế kỷ hai mươi là trong khi vật lý đã phải cam chịu sự bẽ bàng của nguyên lý bất định (1) và các nhà vật lý đã trở nên quen thuộc với những thực thể lạ (2) như [dạng] vật chất-sóng và các hạt-ảo , nhiều đồng nghiệp của họ trong lĩnh vực sinh học dường như không để ý tới cuộc cách mạng trong điện động lực học lượng tử. Vì rất nhiều nhà sinh học đang quan tâm, vật chất được làm từ các quả bóng bi-a mà va chạm theo những khẳng định của Newton, trong khi họ tiến hành xây dựng các mô hình phân tử bằng các quả bóng bàn nhiều màu sắc.

Một trong những nhà khoa học nổi bật nhất thế kỷ 20 và là người đạt giải Nobel, Max Planck đã quan sát thấy rằng: ‘Một chân lý khoa học mới không thành công bằng cách thuyết phục các đối thủ của nó hay khiến họ (các đối thủ) nhìn thấy được ánh sáng, mà hơn hết là bởi vì các đối thủ của nó cuối cùng cũng chết, và một thế hệ mới lớn lên và quen thuộc với nó.’

Có thể là một hoặc nhiều thập kỷ trước đó, một thế hệ mới như vậy đã lớn lên và lặp lại sự chính xác về tri thức đối với việc nghiên cứu thuyết tiến hóa sinh học.

Tham khảo

[1] Monod, Jacques, 1972 edn. Chance and Necessity. William Collins. Glasgow.

[2] Simpson, George G. 1951. Horses. Oxford University Press.

[3] Simpson, George G. 1951. Horses. Oxford University Press.

[4] Norman, David. 1985. Encyclopaedia of Dinosaurs. Salamander Books. London.

[5] Patterson, Colin, presentation to the American Natural History Museum, 5 November 1981.

[6] Waddington, C.H., 1960, Evolutionary Adaptation in Tax Vol. 1, pp 381-402.

[7] Simpson, George G. 1964, This View of Life, Harcourt Brace and World. New York.

[8] Cairns, J., J. Overbaugh, S. Miller. 1988. The origin of mutants. In Nature 335: 142-145.

Hall, Barry G. Sept. 1990. Spontaneous point mutations that occur more often when advantageous than when neutral. In Genetics Vol. 126, pp. 5-16.

[9] Durrant, Alan. 1958. Environmental conditioning of flax. in Nature, Vol. 81, p. 928-929.

Hill, J. 1965. Environmental induction of heritable changes in Nicotiana rustica. in Nature, Vol. 207, pp. 732-734.

Cullis, C.A. 1977. Molecular aspects of the environmental induction of heritable changes in Flax. in Heredity. Vol. 38, p. 129-154.

[10] See Koestler, Arthur. 1978. The Case of the Midwife Toad. Hutchinson. London, for an account of the experiments of Paul Kammerer at the Vienna Institute for Experimental Biology 1903-1926.

[11] Hoyle, F. 1983. The Intelligent Universe. Michael Joseph London.

See also, Crick, Francis, 1981. Life Itself. Macdonald. London.

[12] Sheldrake, Rupert, 1988 edn. A New Science of Life, Paladin London.

[13] Nature 1981, Vol. 293, pp 245-246.
(Nguồn: http://www.alternativescience.com/darwinism.htm)

Chú thích từ ban biên tập Chánh Kiến tiếng Việt:

1. Nguyên lý bất định (uncertainty principle, theo wikipedia):  là một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử, do Werner Heisenberg đưa ra, phát biểu rằng người ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.

Trong triết học, xét về khía cạnh tính ngẫu nhiên, có 2 trường phái: trường phái Heisenberg (dựa trên cơ sở  nguyên lý bất định Heisenberg), hay trên cơ sở thuyết xác suất, nghĩa là các hiện tượng xảy ra là mang tính ngẫu nhiên. Trường phái này  hoàn toàn đối lập với trường phái định mệnh (determinism) mà Albert Einstein nhận định, khoa học gia nổi tiếng với câu: ‘Chúa không chơi trò súc sắc’, (súc sắc tượng trưng cho xác suất), nghĩa là không ngẫu nhiên, mà có định mệnh, an bài. Ông tin rằng các hiện tượng xảy ra trong vũ trụ là có quy luật, theo một an bài nào đó.

2.  Ánh sáng có 2 tính chất: sóng và hạt (hai dạng vật chất khác nhau). Trong một thí nghiệm thì ánh sáng được xem như  sóng, một thí nghiệm khác thì nó được xem như hạt. Nhiều nhà vật lý học không thể hiểu được điều này, và đi đến chấp nhận nó.

Độc giả có thể tham khảo thêm bài viết liên quan về không gian, một học thuyết (thuyết nhiều thế giới) có thể giải thích những điều trong cơ học lượng tử: Các nhà khoa học khám phá ra sự tồn tại của nhiều thế giới

Dịch từ:

http://www.pureinsight.org/node/965


Ngày đăng: 20-11-2009
Các bài khác
 
 
|    Trang chủ    |    Giới thiệu    |    Liên hệ    |    Minhhue.net    |
  - Website này do các học viên Pháp Luân Đại Pháp thực hiện
- Tất cả các hoạt động của PLĐP đều miễn phí và do học viên tình nguyện đảm nhận