Trang chủTiên triTu luyệnNghệ thuậtDiễn đàn  
  English中文한국어Pусский  
Tìm kiếm
Chuyên mục

Liên kết

Bài chọn lọc
xem thêm
«Cách Am Di Lục» toàn giải (Thiên 10): Trại tam ngũ


Tác giả: Nguyên giải: Chính Hạo / Biên tập: Chánh Kiến Net

[Chanhkien.org] Giới thiệu: «Cách Am Di Lục» (Gyeokamyurok) là cuốn sách tiên tri thần kỳ do học giả Nam Sư Cổ truyền lại từ 470-480 năm trước đây tại Triều Tiên (nay thuộc Hàn Quốc). Nam Sư Cổ, hiệu Cách Am, là người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, với khả năng tiên tri, có thể được ví với Thiệu Khang Tiết thời Bắc Tống ở Trung Quốc. Tuy nhiên, tương truyền «Cách Am Di Lục» là do một vị Thần nhân ở núi Kim Cương khẩu thuật và Nam Sư Cổ ghi lại từng câu từng chữ. Toàn bộ cuốn sách phân làm 60 thiên với gần 4 vạn chữ. Phá giải «Cách Am Di Lục» đã trở thành một chủ đề nóng tại Hàn Quốc vào những thập niên 80-90. Trong dự ngôn giảng rất minh xác về một Đại Pháp Đại Đạo hồng truyền thế gian, nhưng phải trải qua một trường ma nạn, đồng thời cũng giảng về những vấn đề mà nhân loại sẽ phải đối mặt.

*  *  *

Đệ thập thiên “Trại tam ngũ”

Lời tựa: Thiên này khởi đầu bốn thiên mà đề mục có chữ “trại”, và đằng sau là các chữ số. Chữ “trại” ở đây mang nghĩa cúng tế Thần, là ngôn ngữ kính trọng Thần. “Tam ngũ” tức “thập ngũ”, thập ngũ là Chân Chủ, tức Cứu Thế Chủ. “Trại tam ngũ” tức kính trọng luận về Đại Thánh nhân, hay thập ngũ Chân Chủ (theo Kinh Dịch, số 5 và 10 ở giữa, ứng với Trung ương).

Vạn dân chi chúng phụng mệnh thiên ngữ, Cung Ất chi nhân truân truân giáo hóa.
Nhược giả vi tuy chiến thắng, Vi kiên khước giả kiếp vạn dân thính thị.
Tây khí Đông lai cứu thế Chân nhân, Thiên sinh hóa thị mạt thế Thánh quân.

Vạn dân chi chúng phụng mệnh thiên ngữ, Cung Ất chi nhân truân truân giáo hóa” (Hàng vạn dân chúng phụng mệnh lời của Trời, Người cung Ất ân cần giáo hóa): Trong thời kỳ đặc thù này, nhân loại kính bái thập ngũ Chân Chủ để nghe “thiên ngữ”, nghe “ân cần giáo hóa” của “người cung Ất”, tức người sáng lập Pháp Luân Công. «Cách Am Di Lục» thường dùng “cung Ất”, “lưỡng cung song Ất”, “cung cung Ất Ất” để chỉ Pháp Luân và Pháp Luân Công nói chung. “Cung cung” (弓弓) chỉ Thái Cực đồ của Đạo gia gồm hai cung Âm-Dương xoắn vào nhau; “Ất Ất” (乙乙) chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia, Ất+Ất = “乙”+”乙” = “卍”.

Đồ hình Pháp Luân với các Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn “卍”, biểu tượng của Pháp Luân Công.

Nhược giả vi tuy chiến thắng, Vi kiên khước giả kiếp vạn dân thính thị” (Người yếu mà lại chiến thắng, Người vì kiên quyết bỏ kiếp vạn dân lắng nghe): “Người yếu” chỉ Đại Thánh nhân, vì sao? Từ quan điểm thế tục mà xét, người sáng lập Pháp Luân Công không xuất thân quyền quý, mà lại chiến thắng; “tuy” là “thùy”, “vi thùy chiến thắng”, nghĩa là vì ai mà chiến thắng. “Người vì kiên quyết bỏ kiếp” là những người tu Đạo, loại bỏ bệnh tật và quan niệm cố hữu. Đại Thánh nhân là vì cứu độ người tu luyện và chúng sinh mà chiến thắng.

Tây khí Đông lai cứu thế Chân nhân, Thiên sinh hóa thị mạt thế Thánh quân” (Chân nhân cứu thế khí Tây đến từ Đông, Trời sinh hóa quả hồng là Thánh quân mạt thế): Hai câu này giảng phương Đông sẽ xuất sinh Đại Thánh nhân, và Đại Thánh nhân này sẽ là Cứu Thế Chủ của nhân loại. “Tây khí Đông lai” là thuật ngữ «Cách Am Di Lục» thường dùng để miêu tả Đại Thánh nhân. Vậy “Tây khí Đông lai” là gì? Ý là Đại Thánh nhân, tức “cung Ất chi nhân” Lý Hồng Chí tiên sinh, hiện nay xuất thế tại Đông phương, nhưng từng chuyển sinh qua Tây phương, và vận hiện nay là “khí Tây đến từ Đông”, tức người phương Đông định cư ở phương Tây. Đại Thánh nhân này chính là “Cứu thế Chân nhân”, là Thánh quân thời mạt thế. “Trời sinh hóa quả hồng”: chữ “thị” (柿), nghĩa là quả hồng ở đây ngụ ý rất sâu. (i) “quả hồng” là đắng trước ngọt sau, khổ tận cam lai, ẩn dụ tu luyện; (ii) về mặt hình tượng, quả hồng hình tròn (viên), ẩn dụ tu luyện công thành viên mãn; (iii) “thị” (柿) do “Mộc” (木) ở bên trên chữ “Lý” (李) ghép với “tệ” (币) ở bên phải chữ “Sư” (師), tức chỉ “Lý Sư”, hay vị Sư phụ mang họ Lý. “Thiên sinh hóa thị mạt thế Thánh quân” có nghĩa ông Lý Hồng Chí là Thánh quân truyền Pháp thời mạt thế.

Thiên nhân xuất dự dân cứu địa, Kỳ thời bế mục hốt khai.
Long nhĩ khẩu á thính thủ xuy ca, Bán thân bất tùy trường thân cước.
Quảng dã dũng xuất sa mạc lưu tuyền.

Thiên nhân xuất dự dân cứu địa, Kỳ thời bế mục hốt khai” (Người trời xuất sinh để giúp dân cứu đất, Lúc này mở mắt ra mà xem): Mục đích xuất thế của Đại Thánh nhân là để cứu độ chúng sinh, mau thấy rõ và tiến vào tu luyện Pháp Luân Công.

Long nhĩ khẩu á thính thủ xuy ca, Bán thân bất tùy trường thân cước. Quảng dã dũng xuất sa mạc lưu tuyền” (Tai rồng miệng á lắng nghe bài ca, Bán thân bất toại duỗi chân ra được. Đồng rộng tuôn chảy dòng suối giữa sa mạc): Người lãng tai mà bỗng chốc nghe được, lại mở miệng hát theo bài ca, bị liệt nửa người mà bỗng chốc đi lại được, từ giữa sa mạc mà lại tuôn chảy dòng suối được, đây là công hiệu thần kỳ và siêu thường của Pháp Luân Công. Nghĩa là, bất kể bạn đau ốm bệnh tật gì, chỉ cần học luyện Pháp Luân Công của Đại Thánh nhân, thì có thể kiện thân, trường sinh.

Di sơn đảo thủy hải khô sơn phần, Đại trung tiểu ngư giai vong.
Ngu muội hành nhân bất chính lộ, Thiên thích chi nhân lưỡng thủ đại cử thiên hô vạn tuế.
Ác xú vĩnh vô toàn tiêu.

Di sơn đảo thủy hải khô sơn phần, Đại trung tiểu ngư giai vong” (Dời núi đảo nước biển khô núi thiêu, Cá lớn cá nhỏ cá bé đều chết): Mạt thế cuối cùng sẽ có đại kiếp nạn tới, khi ấy cảnh tượng thê thảm là vượt khỏi sự tưởng tượng của con người. “Cá lớn cá nhỏ cá bé” ẩn dụ nước lớn, nước nhỏ, nước bé cũng đều bị diệt vong.

Ngu muội hành nhân bất chính lộ, Thiên thích chi nhân lưỡng thủ đại cử thiên hô vạn tuế. Ác xú vĩnh vô toàn tiêu” (Người đi đường ngu muội không theo đường ngay, Người được Trời thả cùng hô vang vạn tuế. Xấu ác bị tiêu diệt hoàn toàn): Người đời u mê làm sao thoát trường kiếp nạn này? Những người còn lại được thiên thượng cho sinh tồn sẽ tung hô vạn tuế, cảm kích vô cùng khi sống sót sau trận đại kiếp nạn này. Sau đại kiếp nạn, “xấu ác bị tiêu diệt hoàn toàn”, thế giới mới sẽ đản sinh, ngày tháng đổi mới.

Trung động bất tri mạt động chi tử, Nhân giai tâm giác bất lão vĩnh sinh.
Tòng chi cung Ất vĩnh vô thất bại.

Trung động bất tri mạt động chi tử, Nhân giai tâm giác bất lão vĩnh sinh. Tòng chi cung Ất vĩnh vô thất bại” (Trung động không biết mạt động là chết, Người đều tỉnh tâm không già sống mãi. Từ cung Ất ấy mãi không thất bại): Vào thời “trung nhập”, hay “trung động” này, hãy mau bước vào tu luyện Pháp Luân Công, nếu không đến thời “mạt nhập” hay “mạt động” rồi thì chết là không nghi ngờ gì nữa. Người nào tỉnh tâm tỉnh ngộ tu luyện Pháp Luân Công thì sẽ bất lão vĩnh sinh. Chính nhờ Pháp Luân Công, hay “cung Ất” ấy mà vĩnh viễn bất bại.

Ngã quốc Đông bang vạn bang chi tị loạn chi phương.
Dân kiến tòng thị thiên thụ đại phúc, Bất thất thời cơ hậu hối mạc cập hĩ.

Ngã quốc Đông bang vạn bang chi tị loạn chi phương. Dân kiến tòng thị thiên thụ đại phúc, Bất thất thời cơ hậu hối mạc cập hĩ” (Nước ta phương Đông là nơi tránh loạn của vạn nước. Dân thấy theo quả hồng là Trời ban cho phúc lớn, Đừng bỏ lỡ cơ hội này không sau hối không kịp đâu): Hàn Quốc ở phương Đông là nơi người ta có thể tránh loạn, trăm họ đi theo Đại Thánh nhân (“quả hồng”) mà đắc Pháp tu luyện, có thể nói là “Trời ban cho phúc lớn”. Nhớ lấy, nghìn vạn lần không được đánh mất cơ hội này, thời cơ qua rồi thì có hối cũng không kịp.

(Hết thiên 10)

Dịch từ:

http://www.zhengjian.org/node/21224


Ngày đăng: 30-09-2012
Bài cùng chủ đề
Các bài khác
 
 
|    Trang chủ    |    Giới thiệu    |    Liên lạc    |   Lưu trữ    |    Minh Huệ Net    |
  - Website này do các học viên Pháp Luân Đại Pháp thực hiện
- Tất cả các hoạt động của PLĐP đều miễn phí và do học viên tình nguyện đảm nhận